vanban.org

Bản án 03/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 02/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lục Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CM
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày 02-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Kim Thu.

2. Ông Lý Văn Thuận.

- Thư ký phiên toà: Ông Bảo Thanh Toàn - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Trưởng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2021/HSST, ngày 26 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Lục Văn T; Sinh ngày: 24/12/1977; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 7, TT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, Đảng, đoàn thể: Không; Trình độ học vấn: Lớp 03/12; Con ông Lục Văn Loan và bà Hoàng Thị Phúc; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ngân và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, nhưng từ khi có Quyết định thì Thụ đã bỏ trốn nên chưa thi hành được.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Phạm Quang P, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn Pác San 1, TT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 05/9/2021, tại thôn ĐL, xã QC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an huyện CM phát hiện Lục Văn T và Phạm Quang P có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện Lục Văn T ngậm trong miệng 01 gói nghi là chất ma túy. Qua thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy thì cho kết quả sơ bộ gói chất bột màu trắng này là ma túy, loại Heroine. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lục Văn T và Phạm Quang P. Tang vật thu giữ của Thụ gồm: 01 (một) gói nilon màu trắng được buộc dây nịt màu vàng bên trong có 01 (một) gói nilon màu đen bên trong có chất màu trắng dạng cục và bột được niêm phong trong phong bì ký hiệu “T”. Không phát hiện và thu giữ gì của Phạm Quang P.

Tại Biên bản mở, đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất ma túy ngày 05/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xác định: Chất màu trắng dạng cục và bột thu giữ của Lục Văn T, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T có khối lượng: 1,860g (Một phẩy tám sáu không gam). Sau khi cân, số chất màu trắng dạng cục và bột trên được niêm phong vào phong bì ký hiệu T1 gửi đi giám định, số bao gói được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu T2.

Tại bản Kết luận giám định số 156/KTHS-MT ngày 08/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Chất màu trắng dạng cục và bột có trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 1,860g. Sau giám định, mẫu chất trong phong bì T1 còn lại là 1,780g (Một phẩy bẩy tám không gam) cùng phong bì bao gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu T156 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu giám định.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lục Văn T khai nhận: Số chất màu trắng dạng cục và dạng bột mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được trong miệng của Thụ là chất ma túy, loại Heroine. Số ma túy trên là của Thụ, Thụ có được là vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/9/2021, Thụ đi đến nhà Phúc rủ Phúc cùng đi xuống thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên chơi, Phúc đồng ý đi cùng. Sau đó Phúc và Thụ đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đang đi trên đường gần nhà Phúc, người này đã chở Phúc và Thụ đi từ thôn Pác San 1, TT đến khu vực cầu ổ gà đường Quốc lộ 3 Thái Nguyên - Bắc Kạn, sau đó Thụ và Phúc đón xe buýt đi Thái Nguyên, khi đến khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên thì hai người xuống xe, Thụ bảo Phúc đứng tại đây chờ rồi Thụ thuê xe ôm (xe mô tô) của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực bến xe khách tỉnh Thái Nguyên, thuộc phường ĐQ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Thụ đi vào bên trong bến xe khách và gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ và Thụ mua của người đàn ông này 01 (một) gói ma túy, loại Heroine với số tiền 1.220.000đ (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Thụ đã cất giấu số ma túy mua được bằng cách ngậm trong miệng rồi thuê xe ôm (xe mô tô) lên khu vực đường tròn Tân Long, thành phố Thái Nguyên nơi Phúc đang chờ. Hai người cùng nhau đón xe khách loại 16 chỗ đi về huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. Khi đi đến khu vực gần chốt kiểm soát dịch bệnh Covid 19 thuộc địa phận thôn ĐL, xã QC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn thì Thụ và Phúc xuống xe ô tô, đi bộ qua chốt thì gặp tổ công tác Công an huyện CM đang làm nhiệm vụ bắt quả tang. Toàn bộ số tiền Thụ mua ma túy là tiền của Thụ, không có ai đóng góp để cùng mua ma túy. Quá trình đi xuống Thái Nguyên mua ma túy, Thụ có rủ Phúc đi chơi cùng nhưng không nói cho Phúc biết việc đi mua ma túy nên Phúc không biết được việc Thụ đã mua và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với Phạm Quang P, sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa về Cơ quan CSĐT Công an huyện CM đấu tranh, Phúc khai nhận không biết việc Thụ đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Lời khai của Phúc phù hợp với lời khai của Thụ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án, gồm:

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2 mặt trước ghi giấy gói cũ Lục Văn T mặt sau có 01 chữ ký Thụ, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ gồm Lục Văn T, Dịp Thanh Hà, Lương Quốc Anh, Tràng Việt Tuấn, Hoàng Huy Du, Lê Huy Hoàng và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, bên trong có giấy gói cũ.

+ 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu T156, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được, 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, bên trong có 1,780g ma túy, loại Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau giám định.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản cáo trạng số 42/CT- VKSCM ngày 26/10/2021, truy tố bị cáo Lục Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tại bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

- Tuyên bố: Lục Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lục Văn T từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2021.

- Về hình phạt bổ sung: Lục Văn T có tài sản, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249, phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Thụ.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS 2015: Tịch thu, tiêu hủy: + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2 mặt trước ghi giấy gói cũ Lục Văn T mặt sau có 01 chữ ký Thụ, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ gồm Lục Văn T, Dịp Thanh Hà, Lương Quốc Anh, Tràng Việt Tuấn, Hoàng Huy Du, Lê Huy Hoàng và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, bên trong có giấy gói cũ.

+ 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu T156, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được, 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, bên trong có 1,780g ma túy, loại Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau giám định.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lục Văn T nói lời sau cùng, có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện CM; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Lục Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 05/9/2021, tại khu vực chốt kiểm soát dịch bệnh Covid 19 thuộc địa phận thôn ĐL, xã QC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, Lục Văn T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói nhỏ ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 1,860 gam, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời và mục đích khác.

Hành vi của Lục Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

….

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét tính chất hành vi của bị cáo gây ra là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự: Ngày 20/8/2019 bị TAND huyện CM, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định số 04/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, nhưng từ khi có Quyết định thì Thụ đã bỏ trốn nên chưa thi hành được. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội của bị cáo cùng nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Về vật chứng trong vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2 mặt trước ghi giấy gói cũ Lục Văn T mặt sau có 01 chữ ký Thụ, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ gồm Lục Văn T, Dịp Thanh Hà, Lương Quốc Anh, Tràng Việt Tuấn, Hoàng Huy Du, Lê Huy Hoàng và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, bên trong có giấy gói cũ; 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu T156, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được, 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, bên trong có 1,780g ma túy, loại Heroine. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có tính khả thi. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Thụ.

Đối với Phạm Quang P, là người đã đi cùng Thụ xuống Thái Nguyên. Tuy nhiên Phúc không biết việc Thụ mua và tàng trữ ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý đối với Phúc, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Thụ tại khu vực bến xe khách tỉnh Thái Nguyên, Thụ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ xử lý, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

1. Tuyên bố: Bị cáo Lục Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lục Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2021.

- Áp dụng khoản 5 Điều 249/BLHS xử phạt bị cáo Lục Văn T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017; Điều 106/BLTTHS 2015. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2 mặt trước ghi giấy gói cũ Lục Văn T mặt sau có 01 chữ ký Thụ, 05 chữ ký không đọc được, 06 dòng chữ gồm Lục Văn T, Dịp Thanh Hà, Lương Quốc Anh, Tràng Việt Tuấn, Hoàng Huy Du, Lê Huy Hoàng và 02 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM, bên trong có giấy gói cũ; 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu T156, mặt sau có 03 chữ ký không đọc được, 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, bên trong có 1,780g ma túy, loại Heroine.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 26 tháng 10 năm 2021 giữa Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo Lục Văn T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ