- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05/01/2021. (V/v: Ly hôn, nuôi con chung). |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đỗ Văn Hòa.
2/ Bà Lê Thị Kiều Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 562/2020/TLST-HNGĐ ngày 28/10/2020 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 506/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/12/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 527/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/12/2020 giữa:
Nguyên đơn: Bà Qua Như A – sinh năm 1983 Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, tỉnh E.
Bị đơn: Ông Hồ Công F – sinh năm 1977 Nơi cư trú: Khu phố G, phường H, thành phố I, tỉnh E.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại nội dung đơn kiện, bản khai nguyên đơn bà Qua Như A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hồ Công F tự tìm hiểu, quen biết nhau, chung sống vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện D, tỉnh E vào ngày 28/7/2016.
Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng không thường xuyên chung sống với nhau, mỗi người sống một nơi, thỉnh thoảng hai vợ chồng mới gặp nhau nên vợ chồng cũng ít xảy ra mâu thuẫn. Nhưng thời gian sau này từ năm 2018 thì ông F thay đổi tính tình cắt đứt liên lạc và không muốn gặp mặt vợ con, cũng từ đó vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Tháng 08/2020, bà có làm đơn xin ly hôn, nhưng sau đó bà xin rút đơn, để vợ chồng về hàn gắn nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không thể giải quyết được. Nay bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hồ Công F.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Hồ Qua Phương J (nữ) - sinh ngày 19/8/2008 và Hồ Công K (nam) – sinh ngày 01/6/2016. Sau khi ly hôn bà cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, bà A không yêu cầu ông F cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà A trình bày: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà A xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và đã tự sống xa nhau từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông F. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
Bị đơn ông Hồ Công F trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập; Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông F không có ý kiến và vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải được.
Ông Hồ Công F đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau :
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Qua Như A và ông Hồ Công F là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện D, tỉnh E vào ngày 28/7/2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhỏ do không thường xuyên chung sống với nhau. Từ năm 2018 do ông F thay đổi tính tính cắt đứt liên lạc với vợ con, không còn quan tâm gì tới vợ con và vợ chồng cũng đã sống xa nhau từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông F cũng không có ý kiến gì và cũng không tới Tòa án để hòa giải như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 đề nghị HĐXX xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Hồ Qua Phương J (nữ), sinh ngày 19/8/2008 và Hồ Công K (nam), sinh ngày 01/6/2016. Hiện nay hai con chung đang sống cùng bà A, bà A cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Hơn nữa theo bản tự khai của cháu J có nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện tốt nhất cho các cháu nên căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật HNGĐ 2014 đề nghị HĐXX chấp nhận giao hai con cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật. Về tiền cấp dưỡng: bà A không yêu cầu ông F cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên VKS không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát thành phố I, hội đồng xét xử nhận định :
Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Qua Như A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là ông Hồ Công F hiện cư trú tại phường H, thành phố I. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố I.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng ông Hồ Công F vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Qua Như A và ông Hồ Công F là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện D, tỉnh E vào ngày 28/7/2016.
Quá trình giải quyết vụ án, bà thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng ít gần gũi nhau, mỗi người sống mỗi nơi do điều kiện công ăn việc làm. Kinh tế gia đình chủ yếu do bà đứng ra lo liệu, thỉnh thoảng ông F mới về thăm vợ con. Từ năm 2018 ông F cắt đứt liên lạc với vợ con, bà có gọi điện cho ông F để có hướng khắc phục tình trạng hôn nhân của vợ chồng nhưng ông F vẫn không có thiện chí đoàn tụ. Cũng từ năm 2018 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân nhau, mạnh ai nấy sống. Mặt khác, theo hồ sơ lưu tại Tòa án thì tháng 8/2020 bà A có làm đơn khởi kiện xin ly hôn ông Hồ Công F nhưng sau đó lại rút đơn khởi kiện nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Ông F cũng đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà A. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Qua Như A được ly hôn với ông Hồ Công F.
Về con chung: Ông F, bà A có 02 con chung tên Hồ Qua Phương J (nữ), sinh ngày 19/8/2008 và Hồ Công K (nam), sinh ngày 01/6/2016. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy. Hiện nay 02 con chung đang do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Hơn nữa theo bản tự khai ngày 30/11/2020 cháu J có nguyện vọng được ở với mẹ. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện học hành, vật chất và tinh thần tốt nhất cho các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà A.
Ông Hồ Công F có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà A không yêu cầu ông F cấp dưỡng tiền nuôi hai con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông F không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Ñieàu 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/Về quan hệ hôn nhân: Bà Qua Như A được ly hôn ông Hồ Công F.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao 02 con chung tên Hồ Qua Phương J (nữ), sinh ngày 19/8/2008 và Hồ Công K (nam), sinh ngày 01/6/2016 cho bà Qua Như A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông F có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: bà A không yêu cầu ông F cấp dưỡng tiền nuôi hai con nên Hội đồng xét xử không xét.
3/ Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
4/ Về án phí: Bà Qua Như A phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngày 28/10/2020, bà A đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố I thu theo biên lai số 0008084, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà A đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, đối với bà Qua Như A kể từ ngày tuyên án (05/01/2021), đối với ông Hồ Công F kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết; - Toà án tỉnh Bình Thuận; - UBND xã C, D, BT; - Chi cục Thi hành án dân sự tp. Phan Thiết; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Thái |