- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST Ngày: 13/12/2021 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Kim Phương
Bà Phạm Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh – Thư ký TAND huyện Thống Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: D2/092B ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1997.
Địa chỉ: 113/4E ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Chị P, anh T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T qua thời gian quen biết khoảng 01 năm thì tự nguyện đi đến kết hôn và được UBND xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 207 ngày 26/11/2012.
Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau khi sanh cháu Nam thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T hay rượu chè, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên đi chơi qua đêm không về nhà. Do không cùng quan điểm sống nên hai vợ ít nói chuyện với nhau. Đôi khi say xỉn anh T còn có hành vi hành hung chị P nhưng không để lại thương tích. Chị P và gia đình đã khuyên ngăn nhưng anh T vẫn không thay đổi. Hiện nay chị P và T đã ly thân được hai năm. Đến nay, tình cảm không còn và khả năng đoàn tụ không có nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng tôi chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh năm: 27/3/2014. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị P đang làm công nhân, lương tháng khoảng 5.000.000 đồng. Ngoài ra, chị P còn kinh doanh, buôn bán tự do mỗi tháng khoảng 7.000.000 đồng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Nguyễn Hoàng T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh T không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn và bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa, tuy nhiên nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh P được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
+ Về con chung: Giao con chung cho chị P nuôi dưỡng, chăm sóc.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Buộc Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên kiến nghị khắc phục: Vụ án chưa đảm bảo đúng thời hạn xét xử; thủ tục niêm yết văn bản tố tụng chưa đấy đủ theo quy định tại Điều 179; 203- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ngoài ra, không có ý kiến bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo kết quả xác minh, hiện bị đơn đang cư trú tại xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị P và anh T sau thời gian tìm hiểu, quen biết nhau đã đi đến kết hôn và được UBND xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 207 ngày 26/11/2012.
Xét tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh T nhận thấy: Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị P và anh T đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình. Mặc dù sự việc này không được anh T thừa nhận nhưng lời khai của chị P phù hợp với kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Gia Kiệm và Công an xã Gia Kiệm. Theo biên bản xác minh ngày 27/5/2021 của Công an xã G cho biết: “… hiện nay được biết chị P và anh T không còn sống chung với nhau nữa, anh T có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ 113/4E ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.” Lời khai trưởng ấp “…anh T có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại địa chỉ 113/4E ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, mâu thuẫn vợ chồng không nắm được vì không báo chính quyền địa P…..”
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải để kêu gọi vợ chồng về đoàn tụ gia đình nhưng anh T vắng mặt thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị T.
Xét mâu thuẫn giữa chị P và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị P là có căn cứ. Hôn nhân của chị P và anh T được xác lập theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và yêu cầu ly hôn của chị P là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng chị P và anh T chung sống có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Bảo N sinh năm: 27/3/2014.
Xét yêu cầu của nguyên đơn khi ly hôn được trực tiếp nuôi con chung, nhận thấy: Hiện con chung đang sống cùng với chị P và nguyện vọng của cháu cũng muốn ở với mẹ. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ cần tiếp tục giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị P hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị P cũng không yêu cầu nên tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị P và anh T tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1 Giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh năm: 27/3/2014 cho chị Nguyễn Thị Thanh P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2 Anh Nguyễn Hoàng T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Tạm thời anh Nguyễn Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Thanh P không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006420 ngày 21/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất. Chị P đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: THẨM - VKSND H.TN; - Chi cục THADS H.TN; - UBND xã Gia Kiệm (Số 207/2012); - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Châu Ngọc Hà |