vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Pinăng Thị Ô.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Pinăng Thị Ô được ly hôn với anh Pinăng Nhật H. Về con chung: Giao cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018 cho chị Ôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Hoàng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIn ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Pinăng Thị Ô.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁC ÁI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 7 - 2021
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sẩm A Tắc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cadá Thị Lính

2. Bà Pinăng Thị Nở

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái tham gia phiên toà:

Ông Thành Chế Trọng Triết - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường - Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Pinăng Thị Ô, sinh năm 1992 (Có mặt).

Địa chỉ: thôn MO, xã PT, huyện BA, tỉnh Ninh Thuận

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Văn H

- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (Xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Pinăng Nhật H, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Địa chỉ: thôn SĐ, xã PT, huyện BAi, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Pinăng Thị Ô trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị (Pinăng Thị Ô) và anh Pinăng Nhật H sống chung với nhau từ năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thắng, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại thôn MO, xã PT, huyện BA, tỉnh Ninh Thuận Trong cuộc sống vợ chồng không được hòa thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh Hoàng không quan tâm đến gia đình vợ con. Hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được và mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được nữa.

Nay Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bác Ái giải quyết cho chị được ly hôn với anh Pinăng Nhật H.

Về con chung: Chị Ôi và anh Hoàng có 01 (Một) con chung là cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018. Nếu Tòa án giải quyết cho được ly hôn, chị yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Hoàng phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản bảo vệ của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Văn Hy – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận trình bày: Ông Hy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Pinăng Thị Ô:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Pinăng Thị Ô được ly hôn với anh Pinăng Nhật H.

- Về con chung: Do cháu Pinăng Hoàng Hải còn nhỏ, hơn nữa chị Ôi có đủ điều kiện kinh tế cũng như thời gian chăm sóc cháu Hải tốt hơn anh Hoàng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hoàng Hải cho chị Ôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Chị Ôi không yêu cầu anh Hoàng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Pinăng Nhật H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Pinăng Thị Ô sống chung với nhau từ năm 2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thắng, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại thôn MO, xã PT, huyện BA, tỉnh Ninh Thuận Trong cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc đôi khi xảy ra cãi vã nhưng chưa đến mức trầm trọng.

Nay chị Ôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bác Ái giải quyết cho được ly hôn với anh. Anh không đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án cho vợ chồng về đoàn tụ vì anh còn thương vợ, thương con.

Về con chung: Anh và chị Ôi có 01 người con chung là cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018.

Trường hợp nếu Tòa án giải quyết ly hôn, anh đồng ý giao con chung là cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018 cho chị Ôi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn Pinăng Thị Ô kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Bị đơn anh Pinăng Nhật H chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, bị đơn anh Pinăng Nhật H đang sinh sống và làm ăn tại thôn Suối Đá, xã Phước Tiến, huyện Bác Ái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của chị Ôi cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Chị Ôi và anh Hoàng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thắng, huyện Bác Ái. Nay chị Ôi có yêu cầu ly hôn thì được giải quyết theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Chị Ôi và anh Hoàng có với nhau 01 (Một) người con chung là cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018. Cháu Hải hiện đang sống với chị Ôi và do chị Ôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Do Cháu Pinăng Hoàng Hải còn nhỏ, hơn nữa chị Ôi có đủ điều kiện kinh tế cũng như thời gian chăm sóc cháu Hải tốt hơn anh Hoàng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hải cho chị Ôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Hoàng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ôi và anh Hoàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Pinăng Thị Ô phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ngày 13/01/2021, chị Pinăng Thị Ô làm đơn đến Tòa án huyện Bác Ái yêu cầu giải quyết cho được ly hôn với anh Pinăng Nhật H. Anh Hoàng hiện đang sinh sống và làm ăn tại thôn SĐ, xã PT, huyện BAi, tỉnh Ninh Thuận nên áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ôi và anh Hoàng chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thắng vào năm 2014. Sau khi cưới, vợ chồng về sống tại thôn Ma Oai, xã Phước Thắng, huyện Bác Ái. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng tương đối hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, anh Hoàng không quan tâm đến gia đình vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có. Vì vậy, chị Ôi làm đơn đến Tòa án yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết chị Ôi được ly hôn với anh Hoàng.

2.2. Về con chung: Chị Ôi và anh Hoàng có với nhau 01 (Một) người con chung là cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018. Cháu Hải hiện đang sống với chị Ôi và do chị Ôi chăm sóc, nuôi dưỡng. Do Cháu Pinăng Hoàng Hải còn nhỏ, hơn nữa chị Ôi có đủ điều kiện kinh tế cũng như thời gian chăm sóc cháu Hải tốt hơn anh Hoàng. Anh Hoàng không phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Hải như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ôi và anh Hoàng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Pinăng Thị Ô phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Pinăng Thị Ô.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Pinăng Thị Ô được ly hôn với anh Pinăng Nhật H.

2. Về con chung: Giao cháu Pinăng Hoàng Hải, sinh ngày 07/02/2018 cho chị Ôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh Hoàng không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Không ai được quyền ngăn cản việc đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.

3. Về án phí: Chị Pinăng Thị Ô phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng mà chị Ôi đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000056 ngày 05/4/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bác Ái, chị Ôi đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/7/2021).

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ