vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Nguyễn Thùy G.

Buộc ông Đỗ Đức L phải thanh toán cho bà Lê Nguyễn Thùy G số tiền 250.000.000đ. (Hai trăm năm mươi triệu đồng) Kể từ ngày bà Lê Nguyễn Thùy G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đỗ Đức L chưa thanh toán xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sản chung sau ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Nguyễn Thùy G.
  • Căn cứ chính? Luật hôn nhân và Tuyên xöû; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25/01/2021

“V/v Chia tài sản chung sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Hồng Năm

- Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thế Nam

2/ Ông Hoàng Thanh Tâm

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 25/01/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 406/2020/TLST-HNGĐ ngày 15/7/2020, về việc: “Chia tài sản chung sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Nguyễn Thùy G, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Số 630 H V, khu phố a, phường X, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.(Có mặt).

- Bị đơn: Ông Đỗ Đức L, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số 384 QT, khu phố b, phường XH, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.(Có mặt).

- Người làm chứng:

1/ Ông Đào Sỹ Kh, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Đ9, khu phố 2, phường Xuân Bình, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.(Có mặt).

2/ Ông Thái Ngọc Th, sinh năm 1984. Địa chỉ: 50/81 hẻm Khổng Tử, khu phố 5, phường Xuân Trung, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 14/7/2020, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Nguyễn Thùy G trình bày:

Bà và ông Đỗ Đức L đã ly hôn theo quyết định số 16/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13/01/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh. Theo quyết định ly hôn, phần tài sản chung ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Lúc giải quyết việc ly hôn, khi hòa giải thì ông L có viết giấy bản tự khai tại Tòa án là đồng ý đưa lại cho bà số tiền 250.000.000đ là một nửa tài sản của bà. Hẹn bà 03 tháng sau sẽ đưa đủ cho bà, nhưng sau đó ông L đã không thực hiện. Vì vậy bà mới đi khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn. Tài sản chung gồm có: Diện tích đất 3.400m2 thửa đất số 164, tờ bản đồ 20 tại xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mà ông L đã bán cho ông Thái Ngọc Th. Nay bà yêu cầu được chia đôi tài sản chung của vợ chồng trị giá 500.000.000đ. Bà yêu cầu được nhận ½ tài sản, tương ứng với số tiền 250.000.000đ. Trước đây ông L có yêu cầu giao cho bà số tiền 110.000.000đ thì bà chỉ đồng ý nếu ông L giao 01 lần cho bà số tiền 110.000.000đ, còn nếu giao nhiều lần thì bà không đồng ý với ý kiến của ông L. Nay bà vẫn yêu cầu ông L phải chia cho bà số tiền 250.000.000đ.

Chứng cứ do bà G cung cấp gồm: đơn khởi kiện, CMND, sổ Hộ khẩu, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai, đơn yêu cầu pho to hồ sơ ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ.

* Tại bản tường trình ngày 12/08/2020 và tại phiên tòa bị đơn ông Đỗ Đức L trình bày:

Ông thừa nhận trước đây tại Tòa lúc giải quyết ly hôn giữa ông và bà G thì ông có viết bản tự khai là tôi sẽ giao cho bà G số tiền 250.000.000đ là ½ tài sản của vợ chồng trước đây. Do trước đây ông nghĩ là hỗ trợ tiền để bà G có cuộc sống mới nhưng sau này do ông phải trả nợ và trừ một số chi phí lo cho con. Trong quá trình chung sống ông đã đưa đủ tiền lương của ông để cho bà G chăm lo cho gia đình. Các chi tiêu cho bản thân ông đều tự lo riêng và không sử dụng đồng lương. Sau thời gian, tôi nhận thấy sẽ bấp bênh cho gia đình nên ông có nhờ bạn bè chia sẻ một chút để ông có chút vốn xoay sở và kiếm thêm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống tốt hơn. Ông có nhờ 1 người chỉ giúp để mua một miếng đất phù hợp với khả năng của mình nhằm kiếm chút lời. Ông đã mua một thửa đất tại bàu Trâm và cả hai người cùng đứng tên. Diện tích đất 3.400m2 thửa đất số 164, tờ bản đồ 20 tại xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là do ông mượn tiền của bạn bè là ông Đào Sỹ Kh để mua. Vào năm 2018 ông đã bán đất cho ông Thái Ngọc Th. Sau khi bán đất ông đã mua 1 chiếc xe Innova 7 chỗ sử dụng khoảng vài tháng thì ông cảm thấy không có nhu cầu nên sang lại cho người khác. Số tiền bán xe ông trả nợ cho bạn bè và để chi tiêu cho các con ăn học. Theo như ông nghĩ bà G không có thu nhập trong thời gian đó. Nay bà G khởi kiện thì ông không đồng ý và ông chỉ đồng ý giao cho bà G số tiền 110.000.000đ mà thôi. Ông sẽ đưa làm nhiều lần vì ông không có khả năng đưa cho bà G một lần.

Chứng cứ do ông L cung cấp gồm: CMND, sổ hộ khẩu, bản tự khai.

* Tại bản tường trình và tại phiên tòa Ông Đào Sỹ Kh trình bày: Khoảng năm 2016 – 2017 ông Đỗ Đức L có hỏi mượn của ông số tiền 200.000.000đ, ông L có nói là để mua đất và ông đã cho ông L mượn. Sau đó khoảng gần 01 năm sau thì ông L trả lại ông số tiền 200.000.000đ và nói đã bán đất rồi. Do là chỗ bạn thân với nhau nên ông L có hỏi mượn tiền ông nhiều lần rồi và lần này khi cho mượn tiền ông cũng không có làm giấy tờ gì vì ông tin tưởng ông L và lần nào mượn thì ông L cũng đều có trả. Tất cả những lần mượn tiền thì chỉ có ông L và ông biết và ông bận công việc nhiều nên cũng không có thời gian tiếp xúc nhiều với vợ ông L. Do lần mượn tiền này đã xảy ra lâu rồi nên ông không không thể nhớ chính xác thời gian xảy ra và chỉ ước chừng trong khoảng thời gian trên.

Chứng cứ do ông Khiết cung cấp gồm: Bản tự khai, CMND, sổ Hộ khẩu.

* Tại bản tường trình Ông Thái Ngọc Th trình bày: Vào ngày 30/11/2018 ông có mua miếng đất (thửa đất số 164, tờ bản đồ 20) của ông L và bà G. Số tiền mua bán trong hợp đồng là 150.000.000đ, nhưng số tiền thực tế mua bán là 500.000.000đ. Nay miếng đất trên ông đã bán cho người khác.

Chứng cứ do ông Th cung cấp gồm: CMND, sổ hộ khẩu, bản tự khai, Đơn xin vắng mặt.

Chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại xã Bàu Trâm ngày 16/12/2020, hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ của bà G, ông L, Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Bùi Đức Êm, bà Thái Thị Ngọc Quyên và ông Đỗ Đức L, bà Lê Nguyễn Thùy G, hồ sơ giải quyết ly hôn giữa bà G và ông L, Bản tự khai của ông Khiết và ông Th, đơn xin vắng mặt, CMND, sổ hộ khẩu, biên bản lấy lời khai đối chất.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Long Khánh phát biểu về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng Xét Xử và những người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Long Khánh, nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thành phố Long Khánh.

Về quan hệ pháp luật: Bà G khởi kiện ông L, yêu cầu ông L chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn nên đây là quan hệ pháp luật về “Chia tài sản chung sau ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Về tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, bị đơn: Bà G làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn. Vì vậy, tư cách tham gia tố tụng của bà G là nguyên đơn và ông L là bị đơn trong vụ án là đúng quy định của pháp luật, quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 BLTTDS.

Ông Đào Sỹ Kh và ông Thái Ngọc Th là những người biết về nguồn gốc số tiền mà bà G yêu cầu chia sau khi ly hôn nên có tư cách tham gia tố tụng là người làm chứng là đúng quy định của pháp luật, quy định tại Điều 77 BLTTDS.

Về thu thập chứng cứ: đầy đủ theo quy định của pháp luật theo Điều 97 BLTTDS.

Cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho VKS và người tham gia tố tụng: đúng quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật TTDS.

Thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu: Đúng quy định tại Điều 220 BLTTDS.

Thời hạn giải quyết: Ngày 15/7/2020, Toà án nhận đơn khởi kiện. Ngày 15/7/2020, Tòa án thụ lý vụ án. Đến ngày 07/01/2021, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là chưa đảm bảo theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật TTDS.

* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Về thành phần tham gia xét xử hôm nay đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký tại phiên tòa: đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 78 và 234 BLTTDS.

II. Ý KIẾN VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

Bà G và anh L kết hôn từ năm 2010, quá trình chung sống có 03 người con chung (các con sinh năm 2012, 2014, 2017). Năm 2020, Bà G và ông L ly hôn.

Năm 2017, Bà G và ông L nhận chuyển nhượng thửa đất số 164,tờ bản đồ số 20 tại ấp Bàu Sầm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai thể hiện tại giấy chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đều đứng tên bà G và ông L. Lúc này, bà G và ông L vẫn là vợ chồng hợp pháp, nguồn gốc tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, không có tranh chấp do đó thửa đất này là tài sản chung của bà G và ông L. Do đó, khoản lợi nhuận phát sinh từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác vẫn là tài sản chung của bà G, ông L theo quy định tại Điều 33 Luật HNGĐ năm 2014.

Bà G, ông L và ông Th đều thừa nhận thời điểm khi ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất tại Bàu Sầm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là có mặt đầy đủ cả 03 người. ông Th trực tiếp giao số tiền 500.000.000 đồng là giá trị thực tế của thửa đất cho anh L. Sau đó, anh L đã quản lý và sử dụng số tiền này. Việc anh L cho rằng anh L mượn số tiền 200.000.000 đ của ông Khiết để mua đất, sau đó chuyển nhượng đất được giá 500.000.000 đồng thì trả lại ông Khiết, đồng thời dùng số tiền này để chăm sóc, cấp dưỡng cho các con, sau đó trừ đi và chỉ đồng ý giao cho bà G 110.000.000 đồng là chưa phù hợp. Bởi lẽ, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con chung mà bà G trực tiếp nuôi dưỡng, trong quá trình chung sống, bà G không biết khoản nợ giữa ông L và ông Khiết. Trong quá trình ly hôn, ông L đã viết bản tự khai tại Tòa án, về tài sản chung thì đồng ý đưa lại một nửa tài sản là 250.000.000 đồng cho bà G, đây là sự ghi nhận tự nguyện của ông L, được ông L viết ra, không bị ai ép buộc trước khi ly hôn nên cần tôn trọng.

Từ những phân tích trên nhận thấy, bà G và ông L có tài sản chung sau khi ly hôn là 500.000.000 đồng từ hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đây là tài sản tạo lập trong thời kì hôn nhân, công sức đóng góp tạo lập, duy trì và phát triển tài sản chung của bà G và ông L là ngang nhau. Căn cứ Điều 33, khoản 2, 5 Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tài sản chung 500.000.000 đồng của bà G và ông L được chia đôi, buộc ông L phải thanh toán cho bà G số tiền là 250.000.000 đồng.

* Về án phí: căn cứ khoản 1 Điều 147 BLTTDS 2015; khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tư cách tố tụng: Bà Lê Nguyễn Thùy G có đơn khởi kiện đối với ông Đỗ Đức L vào ngày 14/07/2020 nên bà G được xác định là nguyên đơn, còn ông L là bị đơn. Ngày 10/09/2020 ông Thái Ngọc Th có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 BLTTDS nên Hội đồng xét xử (HĐXX) vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Nguyễn Thùy G yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn với ông Đỗ Đức L nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Chia tài sản chung sau ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo Điều 28, Điều 35 của BLTTDS năm 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, Bà Lê Nguyễn Thùy G vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà G, HĐXX nhận định: Bà G yêu cầu chia đôi tài sản chung vợ chồng là diện tích đất 3.400m2 thửa đất số 164, tờ bản đồ 20 tại xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai và yêu cầu nhận ½ giá trị tài sản là số tiền 250.000.000đ. Xét yêu cầu trên HĐXX nhận định: Thửa đất số 164, tờ bản đồ 20 tại xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai với diện tích 3.400m2 trên do bà G và chồng là ông Đỗ Đức L mua vào năm 2017 của ông Bùi Đức Êm và bà Thái Thị Ngọc Quyên theo hợp đồng chuyển nhượng số công chứng ngày 6/11/2017 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI720839 ngày 20/08/2018 Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đồng Nai cấp cho ông L và bà G. Sau đó vào ngày 30/11/2018 ông L và bà G đã bán lại diện tích đất trên cho ông Thái Ngọc Th theo hợp đồng chuyển nhượng công chứng số 6197/2018 ngày 30/11/2018 với giá trị thực tế là 500.000.000đ. Giá trị ghi trên hợp đồng là 150.000.000đ. Như vậy xác định tài sản chung của ông L và bà G là số tiền 500.000.000đ thu được từ việc bán đất. Khi ông L và bà G ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh thì ông L đã viết bản tự khai xác định sẽ chia cho bà G số tiền 250.000.000đ từ việc bán tài sản chung hẹn 3 tháng sau sẽ giao tiền cho bà G. Tuy nhiên sau đó ông L không thực hiện. Nay bà G khởi kiện là có căn cứ bởi lẽ : Số tiền 500.000.000đ là tiền thu được từ việc bán tài sản chung của vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân. Do đó việc khởi kiện của bà G là có căn cứ cần chấp nhận yêu cầu của bà G.

[4] Đối với ý kiến của ông L cho rằng để mua diện tích đất trên ông phải mượn tiền của ông Đào Sỹ Kh, ông Khiết cũng xác nhận việc này. Tuy nhiên hai bên vay mượn không có giấy tờ và bà G cũng không thừa nhận việc mượn tiền này nên không có căn cứ để chấp nhận ý kiến của ông L. Đồng thời ông L đưa ra ý kiến việc chỉ đồng ý giao cho bà G số tiền 110.000.000đ do phải trả nợ và lo chi phí cho các con nhưng bà G không đồng ý. Việc ông L đưa ra yêu cầu trên là không phù hợp bởi lẽ việc chia tài sản chung của vợ chồng chỉ dựa nguồn gốc của tài sản và công sức đóng góp của vợ chồng. Ông L đi làm, bà G ở nhà nội trợ và chăm sóc 3 con. Thời gian chung sống là hơn 9 năm. Nguồn gốc tài sản có trong thời kỳ hôn nhân do ông bà cùng đứng tên, Công sức đóng góp là như nhau. Đồng thời, đối với lời khai của ông Khiết cho rằng ông có cho ông L mượn tiền để mua đất nhưng không có giấy tờ chứng minh, bà G cũng không thừa nhận nên không có cơ sở chứng minh cho việc ông L mượn tiền để mua đất.Vì vậy cần buộc ông L phải thanh toán lại cho bà G ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng tương ứng với số tiền 250.000.000đ.

[5] Về án phí: Ông L phải nộp 300.000đ án phí chia tài sản chung. Ông L phải nộp 12.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm (250.000.000đ x 5% = 12.500.000đ). Hoàn trả cho bà G số tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp là 6.250.000đ.(Theo biên lai thu tiền số 0006274 ngày 15/07/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh)

[6] Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 147 và Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 95 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131 Luật HNGĐ năm 2014.

- Căn cứ Khoản 5 điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Tuyên xử :

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Nguyễn Thùy G.

- Buộc ông Đỗ Đức L phải thanh toán cho bà Lê Nguyễn Thùy G số tiền 250.000.000đ. (Hai trăm năm mươi triệu đồng)

Kể từ ngày bà Lê Nguyễn Thùy G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Đỗ Đức L chưa thanh toán xong số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468, nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

- Về án phí : Ông L phải nộp 300.000đ án phí chia tài sản chung. Ông L phải nộp 12.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà G số tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp là 6.250.000đ.(Theo biên lai thu tiền số 0006274 ngày 15/07/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh)

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo : Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Đồng Nai;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND TP. Long Khánh;

- THA dân sự TP. Long Khánh.;

- Các đương sự;

- Lưu án văn.

Phí Thị Hồng Năm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thế Nam Lương Thị Như Nga

Phí Thị Hồng Năm

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ