vanban.org

Bản án 03/2021/DS-ST — Tranh chấp đất đai

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:

09 Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết vào ngày 19/6/2013 giữa đồng nguyên đơn là 09 hộ gia đình nêu trên với Công ty cổ phần CPMA vô hiệu. Phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần CPMA với Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN vô hiệu. Phần vô hiệu là phần… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "đồng ngđơn 09 hộ gia đình - Bị đơn Công Ty CPCP THMA"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 109 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/DS-ST
Ngày 06 -9-2021
“V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn
bằng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Thanh

2. Ông Bùi Ngọc Quang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Phạm Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 06/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự theo quyết định nhập vụ án dân sự số 03/2021/QĐ-CA, ngày 18 tháng 03 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-DS ngày 30/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-DS ngày 17/8/2021 giữa các đương sự:

1. Đồng nguyên đơn: 09 hộ gia đình cư trú tại bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên, cụ thể:

1.1. Hộ ông: Cà Văn T; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Cà Văn T; Năm sinh: 1978 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.2. Hộ ông( bà): Lò Thị K(Tên khác: Lò Thị K1); HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông (bà) Lò Thị K; Năm sinh: 1968 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.3. Hộ ông (bà): Lò Thị P; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: bà Lò Thị P; Năm sinh: 1954 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.4. Hộ ông: Lò Văn Kh; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Lò Văn Kh; Năm sinh: 1967 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.5. Hộ ông: Lò Văn P; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Lò Văn P; Năm sinh: 1964 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.6. Hộ ông: Lò Văn S; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Lò Văn S; Năm sinh: 1977 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.7. Hộ ông: Tòng Văn H; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Tòng Văn H; Năm sinh: 1972 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.8. Hộ ông: Tòng Văn N; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Tòng Văn N; Năm sinh: 1958 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

1.9. Hộ ông: Tòng Văn T; HKTT: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên. Người được ủy quyền: ông Tòng Văn T; Năm sinh: 1965 Nơi cư trú: Bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

(Đồng nguyên đơn sau đây gọi tắt là 09 hộ gia đình)

Người được 09 hộ gia đình ủy quyền lại và là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đồng nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân T, sinh năm 1975 – Trợ giúp viên pháp lý; Nơi cư trú: Tổ 18, P. TT, TP. Đ; tỉnh Điện Biên

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên.

(Có mặt).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần CPMA.

Trụ sở: Tổ dân phố 7, thị trấn MA, Huyện MA, Điện Biên.

Người đại diện theo pháp luật cho Công ty:

Ông Nguyễn Hữu D - Chức danh: Giám đốc; sinh năm 1956.

CMND: 010009237 do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 24/5/2010.

Hộ khẩu thường trú tại: SN 18, phố HP, Phường QT, quận BĐ, TP. Hà Nội. (Vắng mặt không lý do).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên Trụ sở: Khối TG, thị trấn TG, huyện TG, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Đ– Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt có lý do).

3.2 Ngân hàng Thương mại cổ phần HHVN.

Địa chỉ trụ sở chính: Số 54A Nguyễn CT, phường LT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội. ĐT: 0437718989.

Địa chỉ giao dịch: Phòng giao dịch HV - Ngân hàng Thương mại cổ phần HHVN (MSB). Tòa nhà TNR, số 54A, đường Nguyễn CT, phường LT, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội. ĐT: 0243.7332.828. Người đại diện theo pháp luật công ty:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng L. Giới tính: Nam. Sinh năm 1977

Chức danh: Tổng Giám đốc. Thẻ căn cước số: 031077002137 cấp ngày 04/4/2016 tại Cục CSĐKQL cư trú và DLQG về dân cư; Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: P602B2, Chung cư 151A Đường NĐC, phường TM, quận HM, thành phố Hà Nội, Việt Nam; Chỗ ở: BT49, H7TT1 Starlake, Phường XT, Quận BTL, TP. Hà Nội. (Vắng mặt không lý do).

3.3 Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công N – Tổng giám đốc.

Trụ sở: Số nhà 756, tổ dân phố 3, P. TT, Đ, Điện Biên.

Nơi công tác: Công ty cổ phẩn MC tỉnh Điện Biên.

Người được ông N ủy quyền: Ông Vũ Đình K– Phó Tổng giám đốc.

Nơi công tác: Công ty cổ phẩn MC tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt có lý do).

3.4 Trung tâm kỹ thuật TNMT (Thuộc Sở TNMT tỉnh Điện Biên) – Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Việt X – Giám đốc. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, P. Noong Bua, TP Đ, Điện Biên. (Vắng mặt có lý do).

3.5 Trung tâm QLĐĐ (Thuộc UBND huyện TG).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B – Chánh văn phòng HĐND & UBND huyện TG phụ trách Trung tâm QLĐĐ huyện TG. Địa chỉ: Khối TG, thị trấn TG, TG, Điện Biên. (Vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo 09 đơn khởi kiện của đại diện 09 hộ gia đình ghi ngày 29/01/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: Người được ủy quyền và là Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân T trình bày:

Theo sự vận động và chủ trương của huyện TG về mở rộng trồng và chăm sóc cây cà phê để xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân. 09 hộ gia đình nêu trên mong muốn được trồng cây cà phê, nhưng không có điều kiện về vốn, kỹ thuật để trồng và chăm sóc. Do vậy, để có điều kiện hơn, huyện chủ trương vận động các hộ dân kết hợp với Công ty cổ phần cà phê THMA (gọi tắt là Công ty) bằng hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty. Công ty cam kết với 09 hộ gia đình, khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty thì sẽ trở thành cổ đông của Công ty, được trả tiền công cho việc nhận trồng và chăm sóc cây cà phê, đồng thời được chia cổ tức hàng năm theo diện tích đất góp. Sau này khi vườn cây đi vào thu hoạch mà 09 hộ gia đình có nhu cầu lấy lại vườn cây thì Công ty sẽ chuyển nhượng lại vườn cây cho 09 hộ gia đình. Khi góp quyền sử dụng đất vào Công ty, mỗi hộ gia đình nêu trên được hỗ trợ 3.000.000đ ( ba triệu đồng)/1ha.

Chính vì vậy, 09 hộ gia đình đã mang quyền sử dụng đất của gia đình họ đi góp vốn vào Công ty Cổ phần cà phê THMA.

Nhưng vào thời điểm đó, 09 hộ gia đình chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Công ty đã cùng với huyện tạo điều kiện cho 09 hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 19 tháng 6 năm 2013, 09 hộ gia đình được Công ty gặp và yêu cầu ký hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với Công ty cổ phần CPMA và lập giấy ủy quyền cho Công ty mang diện tích đất của 09 hộ gia đình đi vay vốn tại ngân hàng. Tuy nhiên, thủ tục ký kết hợp đồng góp vốn không thể hiện ý chí của tất cả các thành viên trong 09 hộ gia đình bởi chưa có văn bản thể hiện ý chí của các thành viên trong hộ gia đình ủy quyền cho người đại diện hộ gia đình để ký kết hợp đồng góp vốn với Công ty.

Năm 2013, Công ty cổ phần cà phê THMA tiến hành trồng cà phê trên phần diện tích đất của 09 hộ gia đình được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dùng vào mục đích trồng cây lâu năm (cà phê). Từ năm 2014, Công ty không tiến hành chăm sóc cho phần diện tích trồng cà phê này, 09 hộ gia đình đã tiến hành tự chăm sóc nhưng không có điều kiện để mua phân bón nên diện tích cây cà phê bị chết nhiều, không phát triển. Cũng trong thời gian đó, Công ty làm ăn thua lỗ, không thực hiện đúng cam kết với 09 hộ gia đình. Đến nay cây cà phê đã chết hết, giá trị cây cà phê không còn. Vì vậy, nguyện vọng của 09 hộ gia đình là lấy lại đất từ Công ty cổ phần CPMA để có đất canh tác phát triển kinh tế gia đình. Vì vậy, 09 hộ gia đình đề nghị trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên tư vấn về vấn đề này.

Nay ông Đỗ Xuân T với tư cách là Người được ủy quyền và là Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn (09 hộ gia đình) yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Huyện MA:

1. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 146, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ việc lập Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất ký giữa 09 hộ gia đình và Công ty cổ phần cà phê THMA vào ngày 19 tháng 6 năm 2013 là trái pháp luật, không thể hiện ý chí của tất cả thành viên trong 09 hộ gia đình bởi chưa có văn bản ủy quyền của các thành viên trong hộ gia đình, ủy quyền cho người đại diện hộ gia đình để ký kết Hợp đồng góp vốn với Công ty, nên chủ thể ký hợp đồng và chủ thể ký giấy ủy quyền không có đủ quyền để ký. Căn cứ vào điều 122, 127, 128 Bộ luật dân sự năm 2005 thì 09 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với 09 hộ gia đình nêu trên là vô hiệu.

Do đó, ông Đỗ Xuân T yêu cầu Tòa án tuyên 09 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất lập ngày ngày 19 tháng 6 năm 2013 giữa 09 hộ gia đình nêu trên và công ty cổ phần cà phê THMA là vô hiệu.

2. Căn cứ quy định tại điều 131 Luật đất đai năm 2003; điều 155 Nghị định 181/2004/NĐ-CP và điều 29 của Luật Doanh nghiệp thì khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty cổ phần cà phê THMA, công ty chưa thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn và chuyển quyền sở hữu từ người góp vốn sang công ty. Nên Công ty chưa đủ điều kiện để mang quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình đi thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn được. Do đó việc ký kết hợp đồng thế chấp giữa Công ty cổ phần cà phê Thái Hòa Mường Ảng với Ngân hàng TMCP HHVN liên quan đến quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình là vi phạm điều cấm của Pháp luật. Căn cứ vào điều 122,127,128 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê số 19/12/BĐ năm 2013 giữa bên bảo đảm là Công ty cổ phần CPMA với bên nhận bảo đảm là Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN có liên quan đến quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình là vô hiệu.

Do đó, ông Đỗ Xuân T yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần cà phê Thái Hòa Mường Ảng với Ngân hàng TMCP HHVN có liên quan đến quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình nêu trên.

3. Trên cơ sở tuyên vô hiệu các hợp đồng nêu trên, ông Đỗ Xuân T yêu cầu Công ty cổ phần cà phê THMA, Ngân hàng TMCP HHVN phối hợp với Trung tâm QLĐĐ huyện TG (Thuộc UBND huyện TG) và các cơ quan, tổ chức có liên quan trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 09 hộ gia đình nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ý kiến của Người được ủy quyền của đồng nguyên đơn, cũng như nội dung Bản luận cứ của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn là 09 hộ gia đình giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên vô hiệu 09 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tuyên vô hiệu một phần của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê có liên quan đến quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình, buộc Công ty cổ phần CPMA và Ngân hàng TMCP HHVN phối hợp với Trung tâm QLĐĐ huyện TG và các cơ quan, tổ chức có liên quan trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 09 hộ gia đình trong vụ án này đã góp vốn vào Công ty cổ phần CPMA như đã nêu trên.

Bị đơn: Công ty cổ phần CPMA; trụ sở: Khối 7 thị trấn MA, huyện Huyện MA, Tỉnh Điện Biên, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D - Chức danh: Giám đốc. Mặc dù được triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng ông Duyên vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Đối với Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng L - Tổng giám đốc, mặc dù Tòa án đã triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án và đến ngày mở phiên tòa, Tòa án cũng không nhận được ý kiến, yêu cầu, đề nghị gì bằng văn bản của Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN.

Đối với Trung tâm kỹ thuật TNMT (Thuộc Sở TNMT tỉnh Điện Biên) – Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Việt X – Giám đốc. Địa chỉ: Tổ dân phố 6, P. Noong Bua, TP Đ, Điện Biên. Mặc dù Tòa án đã triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, ông Hoàng Việt X vắng mặt. Theo bản tự khai của ông Hoàng Việt X, ông có ý kiến như sau: Trung tâm kỹ thuật TNMT đã nhận được Thông báo thụ lý và các chứng cứ, tài liệu do Người được ủy quyền của đồng Nguyên đơn gửi đến. Công ty cổ phần CPMA có thuê Trung tâm thông tin kỹ thuật TNMT (Nay là Trung tâm kỹ thuật TNMT) thuộc Sở TNMT tỉnh Điện Biên đo đạc, khảo sát, lập hồ sơ, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Công ty cổ phần CPMA còn nợ tiền Trung tâm kỹ thuật TNMT nên hồi đó Trung tâm kỹ thuật TNMT đề nghị Trung tâm QLĐĐ huyện TG chưa trả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần CPMA. Vì vậy, đến nay toàn bộ số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình trú tại bản P, xã QC, huyện TG trong vụ án này vẫn đang được Trung tâm QLĐĐ huyện TG quản lý, lưu giữ. Nay do Công ty cổ phần CPMA đang lâm vào tình trạng khó khăn nên Trung tâm KTTNMT tỉnh Điện Biên không đề nghị giải quyết khoản tiền nợ của Công ty cổ phần CPMA nợ Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Điện Biên. Ngoài ra, Trung tâm không đề nghị, yêu cầu gì khác.

Đối với Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên - Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Đ– Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên. Mặc dù Tòa án đã triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, ông Vũ Văn Đvắng mặt. Theo bản tự khai của ông Vũ Văn Đ, ông có ý kiến như sau: UBND huyện TG đã nhận được Thông báo thụ lý và các chứng cứ, tài liệu do Người được ủy quyền của đồng Nguyên đơn gửi đến. Năm 2012, UBND huyện TG cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân theo Thông báo thụ lý của TAND huyện Huyện MA, tỉnh Điện Biên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình có trong vụ án nêu trên được Trung tâm QLĐĐ (Trước là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) lưu giữ, bảo quản tại Trung tâm QLĐĐ huyện TG. UBND huyện TG sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tuyên trong bản án, quyết định của TAND huyện Huyện MA có liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án, chỉ đạo Trung tâm QLĐĐ thực hiện theo các bản án, quyết định của TAND huyện Huyện MA khi các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, UBND huyện TG không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Đối với Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công N – Tổng giám đốc. Người được ông Trần Công N –ủy quyền: Ông Vũ Đình K– Phó Tổng Giám đốc (Theo Giấy ủy quyền ghi ngày 28/6/2021). Vũ Đình K có ý kiến như sau: Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên có nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các chứng cứ, tài liệu kèm theo do Tòa án nhân dân huyện Huyện MA và Nguyên đơn gửi đến. Trong các vụ án giữa nguyên đơn là các hộ gia đình tại bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên khởi kiện bị đơn là Công ty cổ phần CPMA, đối với các vụ án này, phía Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không yêu cầu thẩm định tại chỗ đối với toàn bộ cây Maca có trên đất của các hộ gia đình, ngoài ra, Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với mọi vấn đề khác có liên quan đến Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên, không yêu cầu các đương sự khác trong vụ án gửi các chứng cứ, tài liệu theo quy định của pháp luật.

Đối với Trung tâm QLĐĐ (Thuộc UBND huyện TG) - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B – Chánh văn phòng HĐND & UBND huyện TG phụ trách Trung tâm QLĐĐ huyện TG. Mặc dù Tòa án đã triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B vắng mặt. Theo bản tự khai của ông Nguyễn Văn B, ông có ý kiến như sau: Trung tâm QLĐĐ đã nhận được Thông báo thụ lý và các chứng cứ, tài liệu do Người được ủy quyền của đồng Nguyên đơn gửi đến. Trung tâm QLĐĐ hiện chưa trao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình có tên trong Thông báo thụ lý của Tòa án. Các Giấy chứng nhận nêu trên đều do UBND huyện TG cấp ngày 19/10/2012. Lý do: Trung tâm thông tin kỹ thuật TNMT (Nay là Trung tâm kỹ thuật TNMT) đề nghị văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Nay là Trung tâm QLĐĐ huyện TG) chưa trao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các hộ gia đình có tên trong Thông báo thụ lý của Tòa án nhân dân huyện Huyện MA do Công ty cổ phần CPMA đã thuê Trung tâm kỹ thuật TNMT đo đạc, lập hồ sơ, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và còn nợ tiền. Vì vậy, đến nay toàn bộ số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án vẫn đang được Trung tâm QLĐĐ huyện TG quản lý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Trung tâm QLĐĐ huyện TG không có ý kiến gì thêm, Trung tâm QLĐĐ huyện TG sẽ thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quan điểm của đại diện VKSND huyện Huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, Tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng nêu trên và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, yêu cầu của Người được ủy quyền của đồng nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn là Công ty cổ phần CPMA có địa chỉ trụ sở Công ty đóng tại tổ dân phố 7 - thị trấn MA huyện Huyện MA nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Huyện MA theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đồng nguyên đơn là 09 hộ gia đình đều trú tại bản P, xã QC, huyện TG ủy quyền cho ông Đỗ Xuân T là Trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng, ông Đỗ Xuân T còn là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho 09 hộ gia đình nêu trên. Căn cứ điều 85 BLTTDS năm 2015, điều 138 BLDS năm 2015, chấp nhận việc ủy quyền giữa các đương sự.

Ngày 17/3/2021, Tòa án nhân dân huyện Huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là 09 hộ gia đình trú tại bản P, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên và bị đơn là Công ty cổ phần CPMA. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt trực tiếp, thông qua dịch vụ Bưu chính và niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày bị đơn là Công ty cổ phần CPMA, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN, Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên, Trung tâm QLĐĐ, Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân huyện TG không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2, đã tiến hành tống đạt trực tiếp và thông qua dịch vụ Bưu chính, niêm yết công khai nhưng bị đơn là Công ty cổ phần CPMA, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN, Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên, Trung tâm QLĐĐ, Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân huyện TG không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại 02 buổi hòa giải. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là Công ty cổ phần CPMA, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN, Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên, Trung tâm QLĐĐ, Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân huyện TG vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai), Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Bị đơn và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ các yêu cầu của đồng nguyên đơn, cụ thể: Yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng nêu trên và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Xét 09 hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất lập ngày 19/6/2013 giữa 09 hộ gia đình với Công ty cổ phần CPMA là có thật, nội dung hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất thể hiện đặc điểm của thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giá trị quyền sử dụng đất góp vốn; thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng đất; mục đích góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền và trách nhiệm của bên góp vốn và bên nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; việc đăng ký góp vốn và các khoản lệ phí liên quan đến việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; phương thức giải quyết khi có tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng và cam đoan của các bên. Hợp đồng được chính quyền địa phương, nơi có thửa đất của các hộ gia đình góp vốn chứng thực. Sau khi ký hợp đồng với 09 hộ gia đình, Công ty đã dùng hợp đồng này và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình làm thủ tục để vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN. Nhưng đến cuối năm 2013, đầu năm 2014, Công ty đã không chăm sóc vườn cà phê, đã bỏ mặc vườn cây cà phê đã trồng. Người dân đã góp đất cho Công ty vì vậy mà không có đất để canh tác, sản xuất, không có thu nhập để phục vụ cuộc sống.

Tuy nhiên, về thủ tục thực hiện góp vốn: Hội đồng xét xử xét thấy, khi ký kết hợp đồng góp vốn, bên A chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục để góp vốn theo quy định của pháp luật, Vì: Khi ký kết hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình thì phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật quy định tại điều 109, điều 122 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. Bên A đều là người dân tộc và cư trú ở vùng hẻo lánh, vùng đặc biệt khó khăn nên còn hạn chế về nhận thức pháp luật. Mặt khác, khi Ủy ban nhân dân xã QC huyện TG chứng thực cũng không xem xét toàn diện, đầy đủ về nội dung, hình thức của hợp đồng, không xem xét ý chí của các thành viên trong hộ nên đã chứng thực cho hợp đồng. Thủ tục góp vốn chưa có văn bản ủy quyền giữa các thành viên trong hộ cho đại diện hộ gia đình để đại diện hộ gia đình có cơ sở ký kết Hợp đồng góp vốn. Nội dung hợp đồng vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, thỏa thuận theo quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự, bởi lẽ: Đại diện hộ gia đình ký kết Hợp đồng góp vốn với tài sản góp vốn là Quyền sử dụng đất của cả hộ gia đình nhưng chưa được các thành viên trong hộ đồng ý, bởi chưa có chứng cứ gì thể hiện ý chí của các thành viên trong hộ về việc nhất trí góp vốn, như vậy là chưa "tự nguyện". Vì vậy, 09 hộ gia đình yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết với Công ty cổ phần CPMA là có cơ sở do bên góp vốn và bên nhận góp vốn chưa hoàn thiện các thủ tục góp vốn. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của 09 hộ gia đình, cụ thể:

Tuyên vô hiệu 09 Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất giữa 09 hộ gia đình với Công ty cổ phần CPMA.

Tuyên vô hiệu phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần CPMA và Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN, phần vô hiệu là phần liên quan tới quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình nêu trên, bởi lẽ: Do hợp đồng góp vốn được ký kết giữa 09 hộ gia đình với Công ty cổ phần CPMA vô hiệu nên kéo theo một phần Hợp đồng thế chấp tài sản số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần CPMA và Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN cũng vô hiệu, phần vô hiệu là phần liên quan tới quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình. Khôi phục lại tình trạng ban đầu: Buộc Công ty cổ phần CPMA và Ngân hàng TMCP HHVN phối hợp với Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên, UBND huyện TG, Trung tâm QLĐĐ huyện TG có trách nhiệm hoàn trả cho 09 hộ gia đình toàn bộ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích đất mà 09 hộ gia đình nêu trên đã góp vốn cho Công ty cổ phần CPMA.

Đối với cây cà phê do Công ty cổ phần CPMA trồng trên diện tích đất mà 09 hộ gia đình góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào công ty từ năm 2010, cuối năm 2013 Công ty cổ phần CPMA bỏ mặc cây cà phê không đầu tư, chăm sóc, 09 hộ gia đình đã tự bỏ công sức và tiền của gia đình để chăm sóc cây cà phê nhưng do không đủ điều kiện cũng như kỹ thuật vì thế cây cà phê bị chết và không còn giá trị (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 15/06/2021 của TAND huyện Tuần Giáo) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với cây cà phê do Công ty cổ phần CPMA đã trồng.

Giải quyết hậu quả của một phần hợp đồng thế chấp tài sản số: 19/12/BĐ năm 2013 vô hiệu: Buộc Công ty cổ phần CPMA, Ngân hàng TMCP HHVN phối hợp với Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên, UBND huyện TG, Trung tâm QLĐĐ huyện TG trả lại cho 09 hộ gia đình quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - Công ty cổ phần CPMA mặc dù đã được triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật nhưng đại diện Công ty cổ phần CPMA vẫn vắng mặt và không có ý kiến về việc yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản tiền đã hỗ trợ cho 09 hộ gia đình (là 3.000.000đ/ha) và không có ý kiến gì khác nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP HHVN không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty cổ phần CPMA phải trả khoản tiền gốc và lãi phát sinh mà bên Công ty thế chấp diện tích đất và giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình nêu trên để vay vốn của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Ngân hàng TMCP HHVN có quyền khởi kiện Công ty cổ phần CPMA để đòi lại khoản tiền vay theo các hợp đồng thế chấp vay vốn nêu trên bằng vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên mặc dù đã được tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập lên tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và 02 lần thông báo hòa giải nhưng Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên không tham gia phiên họp, hòa giải theo triệu tập của Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Trung tâm kỹ thuật TNMT có ý kiến thông qua bản tự khai như sau: Công ty cổ phần CPMA còn nợ tiền Trung tâm kỹ thuật TNMT nên hồi đó Trung tâm kỹ thuật TNMT đề nghị Trung tâm QLĐĐ huyện TG chưa trả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần CPMA. Nay do Công ty cổ phần CPMA đang lâm vào tình trạng khó khăn nên Trung tâm KTTNMT tỉnh Điện Biên không đề nghị giải quyết khoản tiền nợ của Công ty cổ phần CPMA nợ Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh Điện Biên, ngoài ra, Trung tâm kỹ thuật TNMT tỉnh Điện Biên không yêu cầu gì khác, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét giải quyết đối với khoản tiền này.

Đối với Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên - Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Đ– Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện TG, tỉnh Điện Biên. Mặc dù Tòa án đã triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, ông Vũ Văn Đvắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Vũ Văn Đcó ý kiến thông qua bản tự khai, thể hiện nội dung: Việc UBND huyện TG cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2012 cho các hộ gia đình trong vụ án là có thật. Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình có trong vụ án nêu trên hiện đang được Trung tâm QLĐĐ (Trước là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất) lưu giữ, bảo quản. UBND huyện TG sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tuyên trong bản án, quyết định của TAND huyện Huyện Mường Ảng có liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án, chỉ đạo Trung tâm QLĐĐ thực hiện theo các bản án, quyết định của TAND huyện Mường Ảng khi các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Nội dung trình bày của ông Vũ Văn Đlà đúng sự thực và phù hợp với các quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Do Trung tâm QLĐĐ huyện TG hiện đang lưu giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án, nên khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, UBND huyện TG cần chỉ đạo Trung tâm QLĐĐ huyện TG trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án, khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Đối với Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên - Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công N – Tổng giám đốc. Người được ông N ủy quyền: ông Vũ Đình K– Phó Tổng Giám đốc (Theo Giấy ủy quyền ghi ngày 28/6/2021). Theo bản tự khai ông Khoa có ý kiến như sau: Đối với các vụ án này, phía Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không yêu cầu thẩm định tại chỗ đối với toàn bộ cây Maca có trên đất của các hộ gia đình, ngoài ra, Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với mọi vấn đề khác có liên quan đến Công ty cổ phần MC tỉnh Điện Biên nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đối với Trung tâm QLĐĐ (Thuộc UBND huyện TG) - Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B – Chánh văn phòng HĐND & UBND huyện TG phụ trách Trung tâm QLĐĐ huyện TG. Mặc dù Tòa án đã triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn B vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn B có ý kiến thông qua bản tự khai, nội dung cơ bản: Trung tâm QLĐĐ hiện đang quản lý, lưu giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình có tên trong Thông báo thụ lý của Tòa án. Các Giấy chứng nhận nêu trên đều do UBND huyện TG cấp ngày 19/10/2012. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trung tâm QLĐĐ huyện TG sẽ thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. HĐXX nhận định: Do Trung tâm QLĐĐ hiện đang quản lý, lưu giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình có tên trong hồ sơ vụ án nên Trung tâm QLĐĐ huyện TG cần có trách nhiệm trong việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong việc trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất của các hộ gia đình trong vụ án, khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về Án phí: Do yêu cầu của đồng nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty cổ phần CPMA phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng) (Đối với mỗi đơn khởi kiện của mỗi hộ gia đình là 300.000đ x 09 đơn khởi kiện của 09 hộ gia đình = 2.700.000đ). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 85; khoản 5 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 109; Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 388, Điều 389, 410 Bộ luật dân sự 2005; Điều 106, 131 Luật đất đai 2003; điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP, ngày 25/5/2007; khoản 2 điều 146, điều 155 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2003; điều 29 Luật doanh nghiệp;

Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:

09 Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết vào ngày 19/6/2013 giữa đồng nguyên đơn là 09 hộ gia đình nêu trên với Công ty cổ phần CPMA vô hiệu.

Phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần CPMA với Ngân hàng thương mại cổ phần HHVN vô hiệu. Phần vô hiệu là phần Hợp đồng liên quan tới quyền sử dụng đất của 09 hộ gia đình cư trú tại bản P, xã QC, huyện TG nêu trên.

Buộc Công ty cổ phần CPMA, Ngân hàng TMCP HHVN phối hợp với UBND huyện TG, Trung tâm QLĐĐ huyện TG trả toàn bộ số diện tích đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu dưới đây và các Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất (do Ủy ban nhân dân huyện TG cấp) cho 09 hộ gia đình theo danh sách dưới đây: ST

NGUYÊN ĐƠN

Số sổ

Diện tích

Ngày cấp

GCNQSDĐ mang tên T

(Địa chỉ, năm sinh)

BC 575041

703,7 m2

19/10/2012

Cà Văn T

Cà Văn T; 1

Năm sinh: 1978

Cà Thị H

BC 575042

1021,1 m2

19/10/2012

Lò Thị K(K1)

Lò Văn N

BC 575264

999,1 m2

19/10/2012 2

Năm sinh: 1968

Lò Thị K1

Lò Thị P;

BC 575279

1015,5 m2

19/10/2012

Lò Thị P 3

Năm sinh: 1954

BC 575280

906,4 m2

19/10/2012

Lò Thị P

Lò Văn Kh;

BC 575113

1089,2 m2

19/10/2012

Lò Văn Kh 4

Năm sinh: 1967

Lò Thị T

BC 575112

664,7 m2

19/10/2012

BC 575289

2475,6 m2

19/10/2012

Lò Văn P;

Lò Văn P 5

BC 575288

1018,7 m2

19/10/2012

Năm sinh: 1964

BC 575290

810,7 m2

19/10/2012

Quàng Thị Th

Lò Văn S;

BC 575001

545,9 m2

19/10/2012

Lò Văn S 6

Năm sinh: 1977

BC 575300

1680,5 m2

19/10/2012

Lò Thị T

Tòng Văn H;

Tòng Văn H

BC 575076

7156,7m2 19/10/2012 7

Năm sinh: 1972

Tòng Thị O

BC 575272

774,0 m2 19/10/2012

BC 575273

1129,4 m2 19/10/2012

Tòng Văn N

BC 575274

1076,5 m2 19/10/2012

Tòng Văn N; 8

Năm sinh: 1958

BC 575275

1296,5 m2 19/10/2012

BC 575276

1592,4 m2 19/10/2012

Tòng Thị H

BC 575277

2266,0 m2 19/10/2012

BC 575045

1152,2 m2 19/10/2012

BC 575046

1495,9 m2 19/10/2012

Tòng Văn T

Tòng Văn T;

BC 575047

901,6 m2 19/10/2012 9

Năm sinh: 1965

BC 575048

801,4 m2 19/10/2012

Lò Thị M

BC 575049

4027,8 m2 19/10/2012

2. Án phí:

Công ty cổ phần CPMA phải chịu 2.700.000đ (Hai triệu bảy trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Phiên tòa kết thúc cùng ngày, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ