vanban.org

Bản án 03/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 04/01/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị Võ Thị Mỹ X.

Giữ nguy n bản án sơ thẩm. Chấp nhận y u cầu của ông Bùi uốc . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị Võ Thị Mỹ X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố t ng d n sự; Điều 148 Bộ luật tố t ng d n sự; Điều 26 Bộ luật tố t ng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/DS-PT
Ngày: 04-01-2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông guy n g c V ng.

Các Thẩm phán:

Ông Ph m g c Giao;

Bà Trương Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông guy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân d n t nh Đồng Tháp.

- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà guy n B ch Nga - i m sát vi n tham gia phiên tòa.

Trong ngày 04/01/2021, t i tr s Tòa án nh n d n t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 318/2020/TLPT-DS ngày 04 tháng 8 năm 2020, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số 41/2020/DS-ST ngày 17/6/2020 của Tòa án nh n d n huyện V bị kháng cáo.

Theo uyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 352/2020/ Đ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. guy n đơn: Ông Bùi uốc , sinh năm 1966; địa ch : đường L, Phường B, uận M, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Bị đơn: Chị Võ Thị Mỹ X, sinh năm 1994; địa ch : Ấp B, xã T, huyện V, t nh Đồng Tháp. (có mặt)

3. gười kháng cáo: Chị Võ Thị Mỹ X - à bị đơn trong v án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Bùi uốc trình bày: Vào ngày 03/10/2017, chị Võ Thị Mỹ X có vay của ông K số tiền là 126.000.000đ. Việc vay tiền hai b n có làm hợp đồng và thoả thuận lãi suất 3%/tháng, thời h n trả là ngày 02/02/2018. Từ ngày vay đến nay chị X mới trả lãi được 12.000.000đ. Số tiền vốn và lãi còn l i đến nay chị X chưa trả cho ông K. Nay ông K y u cầu Tòa án giải quyết buộc chị X có nghĩa v trả số tiền vay còn nợ là 126.000.000đ và tiền lãi từ ngày 03/10/2017 cho đến ngày xét xử xong v án khấu trừ đi số tiền lãi đã thanh toán là 12.000.000đ, theo mức lãi suất 20%/năm tương đương 1,666%/tháng. C th tiền lãi tính là: 126.000.000đ x 1,666% x 31 tháng 14 ngày = 66.053.000đ (làm tròn) – 12.000.000đ = 54.053.000đ. Tổng cộng vốn lãi là 180.053.000đ.

- Chị Võ Thị Mỹ X mặc dù được Tòa án tống đ t Thông báo về việc th lý v án, Thông báo về phi n h p ki m tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự đúng quy định của pháp luật nhưng chị X không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với y u cầu kh i kiện của nguy n đơn và cũng không đến Tòa án đ trình bày ý kiến của mình.

- Bản án d n sự sơ thẩm của Tòa án nh n d n huyện V đã quyết định:

Chấp nhận toàn bộ y u cầu kh i kiện của anh Bùi uốc .

Buộc chị Võ Thị Mỹ X có nghĩa v trả cho anh Bùi uốc số tiền vay gốc là 126.000.000đ và tiền lãi là 54.053.000đ. Tổng cộng vốn, lãi là 180.053.000đ.

từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật d n sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí d n sự sơ thẩm:

Chị Võ Thị Mỹ X phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm là 9.002.000đ.

Anh Bùi uốc không phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả cho anh hánh số tiền t m ứng án phí mà anh hánh đã nộp là 3.150.000đ theo bi n lai số BH/2018/ 0009243 ngày 26 tháng 02 năm 2020 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện V.

goài ra bản án sơ thẩm còn tuy n về quyền và thời h n kháng cáo của các đương sự, quyền và nghĩa v của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 06/7/2020, chị Võ Thị Mỹ X kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm. Y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ y u cầu kh i kiện của ông K.

- T i phi n tòa phúc thẩm:

+ Ông Bùi uốc trình bày vẫn giữ nguy n y u cầu kh i kiện, không thỏa thuận được với chị Võ Thị Mỹ X về giải quyết v án, không có cung cấp bổ sung chứng cứ mới và y u cầu giữ nguy n quyết định của bản án sơ thẩm.

+ Chị Võ Thị Mỹ X trình bày vẫn giữ nguy n y u cầu kháng cáo, c th là không đồng ý trả cho ông K số tiền như quyết định của án sơ thẩm, vì ch vay 30.000.000đ và đã trả còn nợ 9.000.000đ , đồng thời không cung cấp bổ sung chứng cứ mới.

+ Đ i diện Viện ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp ý kiến về giải quyết v án:

Về tố t ng: Từ khi th lý v án đến t i phi n tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố t ng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015.

Về nội dung:

Chị X kháng cáo cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm không tống đ t giấy triệu tập, quyết định đưa v án ra xét xử n n không biết việc ông K kh i kiện, do đó chị không gửi văn bản ý kiến, không tham gia phi n h p, phiên tòa đã ảnh hư ng đến quyền lợi của chị. Tuy nhiên, tài liệu trong hồ sơ v án cho thấy Tòa án sơ thẩm đã tống đ t hợp lệ, t i phi n tòa hôm nay chị X thừa nhận gia đình của chị có nhận được các văn bản tố t ng do Tòa án huyện V tống đ t và có thông báo cho chị biết việc kh i kiện, nhưng do xa nên chị X không tham gia phi n tòa được. Do đó, lời trình bày của chị X việc Tòa án cấp sơ thẩm không tống đ t văn bản tố t ng là không có căn cứ.

Chị X cho rằng không có vay của ông K 126 triệu đồng mà ch vay 30 triệu đồng và đã trả 21 triệu đồng n n đồng ý trả 9 triệu đồng còn l i. Theo tờ hợp đồng ki m giấy nợ ngày 03/10/2017, khi chị X ký t n vào bi n nhận thì bi n nhận chưa ghi số tiền vay bằng số và chữ (còn đ trống), ông K ghi số tiền 126.000.000đ là sau khi chị X ký t n vào bi n nhận, do đó y u cầu giám định. Ông K trình bày số tiền 126 triệu đồng bằng số và chữ là ghi cùng thời đi m chị X ký t n nhận tiền. T i phi n tòa chị X và ông K đều thống nhất, nếu giám định kết luận thời gian ghi số tiền 126.000.000đ bằng số và chữ cùng thời đi m ký tên thì chị X đồng ý số tiền vay gốc của ông K là 126 triệu đồng, nếu giám định kết luận thời gian ghi số tiền 126.000.000đ bằng số và chữ sau khi chị X ký tên thì ông K thống nhất số tiền cho chị X vay là 30 triệu đồng. T i công văn số 365 ngày 22/10/2020 của phòng ỹ thuật Hình sự Công an t nh Đồng Tháp và công văn số 2976 ngày 26/11/2020 của Viện hoa h c Hình sự Bộ Công an, thì hiện nay các cơ quan này chưa giải quyết được các y u cầu về giám định thời đi m viết và ký tr n tài liệu, n n từ chối thực hiện giám định.

Xét thấy, Hợp đồng ki m giấy nợ ngày 03/10/2017 th hiện chị X có vay của ông K số tiền 126.000.000đ, chị X thừa nhận chữ ký trong tờ Hợp đồng ki m giấy nợ ngày 03/10/2017 là của chị X, chị tự nguyện ký t n và không ai ép buộc. Chị X trình bày đã trả được 21.000.000đ nhưng không có chứng cứ và không được ông K thừa nhận. Chị X vay của ông K 126.000.000đ nhưng chưa trả n n ông K y u cầu trả là có căn cứ chấp nhận. Ông K y u cầu lãi suất 1,66%/tháng và tính từ ngày vay đến ngày xét xử là 31 tháng 14 ngày số tiền 66.053.000đ, đồng thời thừa nhận chị X có trả 12 triệu đồng tiền lãi và thống nhất trừ vào số tiền lãi là phù hợp. Do đó chị X phải trả tiền lãi là 66.053.000đ trừ 12 triệu đồng còn 54.030.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 180.053.000đ. Chị X kháng cáo nhưng không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị X, giữ nguy n bản án sơ thẩm.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phi n tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông K kh i kiện đối với chị X về việc y u cầu trả tiền theo hợp đồng vay. Do đó, Tòa án huyện V th lý giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật. Chị X kháng cáo trong thời h n luật định là hợp lệ. Theo đơn kháng cáo, chị X cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không tống đ t giấy triệu tập và quyết định đưa v án ra xét xử, n n chị không biết việc ông K kh i kiện và xét xử v án, vì vậy không có cung cấp cho Tòa án văn bản ý kiến và không được tham gia trong việc giải quyết v án làm ảnh hư ng quyền lợi của chị. ua xem xét thủ t c tống đ t văn bản tố t ng của Tòa án cấp sơ thẩm, đã thực hiện tống đ t trực tiếp nhưng do chị X vắng mặt nơi cư trú n n giao cho cha, mẹ, anh của chị X (ông P, bà N, anh H) nhận theo quy định. T i phi n tòa phúc thẩm, chị X thừa nhận là gia đình của chị có thông báo cho chị biết Tòa án cấp sơ thẩm đã th lý v án hợp đồng vay tài sản do ông K kh i kiện và tống đ t các văn bản tố t ng, nhưng chị X không có văn bản ý kiến, không có mặt theo giấy triệu tập (ông K có đơn y u cầu không hòa giải), n n Tòa án giải quyết v án theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo đối với số tiền vay: Chị X trình bày là ông K không có giao cho chị số tiền 126.000.000đ mà chị ch có nhận số tiền vay của ông K 30.000.000đ. Theo hợp đồng ki m giấy nợ đề ngày 03/10/2017 do ông K cung cấp, chị X thừa nhận vào thời đi m này chị có thỏa thuận vay tiền của ông K và thừa nhận khi nhận tiền xong chị ký t n trong giấy nợ đ chứng minh đã nhận tiền, nhưng chị cho rằng khi ký t n thì t i m c 1 th hiện số tiền mượn chưa ghi số tiền bằng số và bằng chữ, sau đó ông K mới ghi 126.000.000đ. Ông K xác định chị X nhận số tiền 126.000.000đ, giấy nợ viết t i phòng tr của chị X cũng th hiện đúng số tiền đã nhận, nên chị X mới đồng ý ký t n. Vậy lời khai của 02 b n m u thuẫn nhau, đồng thời chị X cho rằng việc lập giấy nợ thực hiện không đúng trình tự thủ t c thông thường, nhưng chị X vẫn đồng ý ký tên. Nay chị X y u cầu trưng cầu giám định chữ viết của ông K về số tiền vay 126.000.000đ (chữ số và chữ viết) so với chữ viết, ký t i phần viết nội dung đã nhận tiền, viết h t n và ký t n đ xác định viết cùng thời đi m hay không. T i phi n tòa phúc thẩm, chị X và ông K cùng cam kết như sau: ếu kết quả giám định xác định chữ viết của ông K và chữ viết của chị X được viết cùng thời đi m thì chị X đồng ý số tiền vốn vay là 126.000.000đ, ngược l i thời đi m viết 02 nội dung nói tr n khác nhau thì ông K thống nhất trình bày của chị X về số tiền vay là 30.000.000đ. Theo văn bản ý kiến của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đồng Tháp (Công văn số 365/ THS ngày 22/10/2020) và Viện khoa h c Hình sự của Bộ Công an (Công văn số 2976/C09-P5 ngày 26/11/2020) đã từ chối thực hiện giám định, lý do 02 tổ chức giám định này chưa giải quyết được các y u cầu về giám định thời đi m viết và ký tr n tài liệu. ay chị X thừa nhận không cung cấp được chứng cứ mới đ chứng minh ch nhận của ông K số tiền vay là 30.000.000đ, trong khi đó chị viết đã nhận tiền và ký t n, ghi h t n th hiện ý chí đã nhận đủ tiền, n n phải thực hiện nghĩa v của người vay.

Đối với tiền lãi: Theo đơn kháng cáo của chị X trình bày đã trả cho ông K 21.000.000đ. T i phi n tòa phúc thẩm, chị X ch đồng ý trả 9.000.000đ và lãi theo quy định, nhưng chị X thừa nhận không có bi n nhận hoặc tài liệu chứng cứ đ chứng minh ông K nhận 21.000.000đ. Ông K khai có nhận tiền lãi là 12.000.000đ, nhưng không nhớ thời gian trả, số tiền mỗi lần nhận, yêu cầu áp d ng mức lãi suất 20%/năm tính lãi từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm và khấu trừ vào số tiền lãi đã nhận theo quy định. C th như sau:

Tiền lãi:126.000.000đ x 1,666% x 31 tháng 14 ngày = 66.053.000đ.

hấu trừ tiền lãi đã nhận: 66.053.000đ – 12.000.000đ = 54.053.000đ.

Tiền lãi phải trả tiếp: 54.053.000đ.

Đ i diện Viện ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp đề nghị không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị X, giữ nguy n bản án sơ thẩm là có cơ s n n chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật n n không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị X, giữ nguy n bản án sơ thẩm. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lực.

Án phí d n sự phúc thẩm: Chị X kháng cáo không được chấp nhận n n phải chịu tiền án phí 300.000đ.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 147, 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố t ng d n sự năm 2015; Điều 357, 463, 468 của Bộ luật d n sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 của ghị quyết số 326/2016/UBTV H 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v uốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận y u cầu kháng cáo của chị Võ Thị Mỹ X.

Giữ nguy n bản án sơ thẩm.

2. Chấp nhận y u cầu của ông Bùi uốc .

Buộc chị Võ Thị Mỹ X trả cho ông Bùi uốc số tiền là 180.053.000đ.

từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, b n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật d n sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Chị Võ Thị Mỹ X phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm là 9.002.000đ.

Chị Võ Thị Mỹ X phải chịu tiền án phí d n sự phúc thẩm là 300.000đ, nhưng được khấu trừ vào tiền t m ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ, theo bi n lai số 0005858 ngày 14/7/2020 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện V, t nh Đồng Tháp.

Ông Bùi uốc không phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông K số tiền t m ứng án phí mà ông K đã nộp là 3.150.000đ theo biên lai số 0009243 ngày 26/02/2020 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện V, t nh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 uật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 uật Thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 uật Thi hành án d n sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ