vanban.org

Bản án 03/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 15/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với người dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (đ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 145 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN
HUYỆN!QUỲNH!LƯU!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!-!Tự!do!-!Hạnh!phúc!
!!!!!TỈNH!NGHỆ!AN
Bản án số: 03/2020/HSST
Ngày: 15-01-2020

NHÂN!DANH!

!!!!!!!!NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!!!!!!!!!TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!QUỲNH!LƯU,!TỈNH!NGHỆ!AN!

!

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Hồ Đ Vĩ!

2. Bà: Đỗ Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lệ Giang, Thư ký Toà án nhân dân huyện QL, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QL tham gia phiên toà:

Ông Hà Đ Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 15/01/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện QL, tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý 139/2019/TLST-HS ngày 24/12/2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2020/QĐXXST-HS ngày 03/01/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: M!Văn!S, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 30/7/1995 tại huyện QL, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Xây dựng; trình độ văn hóa 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông M Văn D, sinh năm 1962 và con bà Hoàng Thị M, sinh năm 1964; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2019 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Cháu Bùi Thị N, sinhngày 17/02/2005 - có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 9, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp cho cháu N:

Ông Bùi Văn K, sinh năm 1980 (bố đẻ) - có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu N:

Ông Phạm Văn Hà - Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháy lý tỉnh Nghệ An - có mặt.

- Người làm chứng:

1/ Anh Bùi Văn M, sinh năm 1982 - vắng mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An.

2/ Cháu Trần Văn C, sinh năm 2005 - vắng mặt;

Người giám hộ: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1984 (mẹ đẻ) - vắng mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

3/ Cháu Bùi Văn H, sinh năm 2008 - vắng mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

4/ Cháu Bùi Văn Đ, sinh năm 2007- vắng mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

Người giám hộ cho cháu Đ và cháu H: Chị Hồ Thị L, sinh năm 1984 (mẹ đẻ) - có mặt;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An;

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 12/10/2019, M Văn S sau khi uống rượu ở nhà bạn về thì đi xe máy đi đến xóm 9, xã NS, huyện QL. Khi S đi qua nhà cháu Bùi Thị N (S và N có quan hệ yêu đương tình cảm từ trước) thì thấy cháu Bùi Thị O, sinh năm 2005 cùng trú tại xóm 8, xã NS (là em gái họ của cháu N) đang đứng hái khế. Thấy vậy, S chạy xe máy vào nói chuyện với O, được một lúc thì cháu N từ trong nhà đi ra rồi cùng nói chuyện với S. Một lúc sau cháu N nói với S “Em đi vào thay quần áo để đi học” đồng thời đi vào nhà tắm. Khi cháu N đi vào nhà tắm thì cháu O đi học trước. Lúc này, S đi đến trước cửa nhà tắm thì thấy của phòng tắm không đóng, bên trong cháu N đang chải tóc thì S đi vào nhà tắm, đứng nói chuyện với cháu N được một lúc rồi chủ động vòng hai tay ôm cháu N vào người, đồng thời hôn và dùng hai tay xoa bóp vào ngực (bầu vú) của cháu N. Sau đó, S nảy sinh ham muốn giao cấu với cháu N nên S nói với cháu N là “Làm tý rồi đi học”, nghe S nói vậy thì cháu N nói “Em sắp đi học rồi”, S tiếp tục nói “Thôi, cho làm tý rồi đi học”, thấy cháu N không nói gì nên S tiếp tục ôm hôn và xoa ngực (bầu vú) của cháu N, đồng thời quay người khóa cửa nhà tắm lại. Sau đó cả hai cùng tự cởi quần áo trên người ra và nằm trên nền nhà tắm T hiện việc giao cấu. Quá trình M Văn S và cháu Bùi Thị N giao cấu với nhau thì có cháu Trần Văn C, sinh năm 2005, Bùi Văn Đ, sinh năm 2007 và cháu Bùi Văn H, sinh năm 2008 trông thấy qua cửa thông gió và lỗ thoát nước của phòng tắm. Khi cháu N thấy có người nhìn thấy thì nói với S là “Có người nhìn ở trên kìa”, nghe cháu N nói thì S trả lời “Chắc không có ai nhìn thấy đâu”, và tiếp tục giao cấu với cháu N. Khi đã thỏa mãn ham muốn tình dục thì Mai Văn S xuất tinh dịch ra ngoài âm đạo của cháu N.

Sau khi trông thấy sự việc thì cháu Trần Văn C và Bùi Văn Đ đã thông báo cho ông Bùi Văn M là chú ruột của cháu N biết. Sau đó, ông M đến trước cửa phòng tắm yêu cầu Mai Văn S và cháu Bùi Thị N đi ra ngoài. Một lúc sau thì Mai Văn S và cháu Bùi Thị N mở cửa đi ra đồng thời S đã thừa nhận sự việc giao cấu với cháu N.

Tại cơ quan điều tra S còn khai nhận trước đó đã 03 (Ba) lần T hiện hành vi giao cấu với cháu N, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ ngày 03/10/2019, M Văn S đi xe máy một mình đến ngã ba đường liên thôn gần nhà ở của cháu Bùi Thị N để đón cháu N đi chơi. Sau đó, chở đến hành lang phía sau nhà văn hóa xóm 8, xã NS, huyện QL để nói chuyện. Tại đây, Mai Văn S đã ôm, hôn cháu N một lúc rồi T hiện hành vi giao cấu với cháu N. Sau khi thỏa mãn được ham muốn tình dục thì S chở cháu N về nhà.

Lần thứ hai: Cũng vào khoảng 21 giờ ngày 06/10/2019, Mai Văn S đi xe máy đến ngã ba đường liên thôn gần nhà cháu N để đón cháu N đi chơi. S chở cháu N đi đến đoạn đường bờ lô trên cánh đồng lúa gần nhà cháu N thuộc xóm 8, xã NS, huyện QL để nói chuyện. Tại đây, Mai Văn S đã T hiện hành vi giao cấu với cháu N. Khi thỏa mãn ham muốn tình dục thì S chở cháu N về nhà.

Lần thứ ba: Cũng vào khoảng 21 giờ ngày 10/10/2019, Mai Văn S đi xe máy một mình đến ngã ba đường liên thôn gần nhà cháu N để chở cháu N đi chơi. S chở cháu N đi đến một ngôi nhà bỏ hoang thuộc xóm 9, xã NS, huyện QL, tỉnh Nghệ An để nói chuyện. Tại đây, hai người nói chuyện được một lúc thì Mai Văn S thực hiện hành vi giao cấu với cháu Bùi Thị N. Cũng như các lần giao cấu trước, sau khi thỏa mãn thì Mai Văn S lại chở cháu N đi về nhà.

Tại bản Kết Luận giám định pháp y về tình dục số 44/TTPY ngày 05/11/2019 Kết Luận: Trên cơ thể Bùi Thị N không có dấu vết thương tích. Màng trinh hình viền có vết rách cũ ở vị trí 03 giờ; 09 giờ; 10 giờ; 11 giờ, vết rách sâu tới chân màng trinh. Thử test HCG: Âm tính (-).

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKS-HS ngày 23/12/2019 của VKSND huyện QL đã truy tố bị cáo Mai Văn S về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện VKSND huyện QL vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Mai Văn S mức án từ 36 đến 40 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; các Điều 584, 586, 592 BLDS Công nhận sự thỏa thuận bị cáo Mai Văn S bồi thường bồi thường thiệt hại về uy tín, danh dự, nhân phẩm bị xâm hại và bù đắp một phần tổn thất về tinh thần cho cháu Bùi Thị N số tiền 30.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Mặc dù bị cáo đã có hành vi nhiều lần giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, đã gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về sức khỏe, đạo Đ và nhân cách của người bị hại xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị hại. Nhưng xét do nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ dẫn đến phạm tội, các bên đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại, được người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt cũng như thỏa thuận bồi thường của bị cáo.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện QL; hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng được ban hành đúng quy định, đúng thẩm quyền.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như hành vi cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 03/10/2019 đến ngày 12/10/2019 Mai Văn S đã có 04 hành vi giao cấu với cháu Bùi Thị N, sinh ngày 17/02/2005. Tại thời điểm S giao cấu với cháu N thì cháu N đã trên 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi. Hành vi Mai Văn S đã phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 điều 145 BLHS.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến thể chất và tinh thần của công dân được pháp luật bảo vệ, đặc biệt là với người dưới 16 tuổi; bị cáo đã xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, làm xói mòn đạo đức xã hội. Bị cáo nhận thức được việc giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thõa mãn ham muốn tình dục của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp dư luận xã hội gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về sức khỏe, đạo đức và nhân cách cho các em trong tương lai, đặc biệt là các em gái. Vì vậy cần lên một mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, trong quá trình tham gia hoạt động tại địa phương đã Năm 2018, S có thành tích xuất sắc trong phong trào sản xuất nông nghiệp được hợp tác xã nông nghiệp Tân Ngọc tặng giấy khen; được người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại và bị cáo đã thỏa thuận thống nhất bị cáo phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bù đắp tổn thất về tinh thần cho cháu Bùi Thị N số tiền 30.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 592 BLDS cần được chấp nhận. Số tiền 30.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã tự nguyện nộp cho cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại, hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện QL theo biên lai thu tiền số 0007021 ngày 25/11/2019.

[5] Về án phí: Bị cáo pH nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo không pH chịu án phí dân sự do đã bồi thường trước khi đưa vụ án ra xét xử.

Vì các lẽ trên

QUYẾT!ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Mai Văn S 36 (Ba sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/10/2019.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 592 Bộ luật dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận bị cáo Mai Văn S phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm và bù đắp tổn thất về tinh thần cho cháu Bùi Thị N tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Được trừ vào số tiền đã bồi thường hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện QL theo biên lai thu tiền số 0007021 ngày 25/11/2019.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mai Văn S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án sơ thẩm.

!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!T.M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM

Nơi gửi:

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA!

- Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại

(đã ký)

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- TAND tỉnh NA;

- Sở tư pháp;

- VKSND huyện QL.;

- Công an huyện QL;

- Chi cục THADS huyện QL;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Anh!Sơn

- UNBD xã NS;

- Lưu HS vụ án, VP

Cỡ chữ