- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” .
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HSST Ngày 27/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG CHÀ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quàng Văn Xôm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Khoàng Văn Hặc
2. Ông: Nguyễn Khắc Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Chức – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Mường Chà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm Sát Viên.
Ngày 27/02/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/HSST ngày 12/02/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/HSST- QĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn P; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1964, tại huyện M, tỉnh Đ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố số 01, thị trấn M, huyện Mà, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm ruộng, nương; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Lò Văn Ú (Đã chết), con bà: Lò Thị H – (Đã chết); Vợ: Lò Thị P (Đã chết); Con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất 28 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 14/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 40/2013/HSST ngày 14/6/2013, bị cáo đã được xóa án tích. Ngày 23/12/2019, bị bắt, tạm giữ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ngày 26/12/2019, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2019, sau đó tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Đ cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phùng Việt H – Sinh năm: 1954. Luật sự - Thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chị: Lò Thị H - Sinh năm: 2001; Địa chỉ: Tổ dân phố số 01, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 22/12/2019, Lò Văn P đi bộ từ nhà xuống đường Quốc lộ 12, thuộc tổ dân phố số 1, thị trấn M, huyện M, P gặp một người đàn ông, qua trao đổi, P đã mua của người này 01 gói heroine với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được heroine, P mang về nhà cất giấu ở kho thóc dưới gầm sàn nhà. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, P lấy gói ma túy dùng dao lam chia nhỏ thành 11 gói (10 gói mỗi gói được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng, 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng), 01 cục P không gói bằng gì, P lấy 01 gói sử dụng, khi đang ngồi chia nhỏ ma túy thì có 01 người đàn ông vào nhà P hỏi mua ma túy, P đã bán cho người này 03 gói với giá 150.000 đồng. Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi P đang chia ma túy thì bị tổ công tác công an huyện M vào nhà P kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ của P 05 gói heroine và 01 cục heroine ở dưới nền nhà, 02 gói heroine ở trong túi áo khoác bên phải mà P đang mặc. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số heroine của P có khối lượng 0,678 gam. Mục đích P mua heroine bán kiếm lời.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 23/12/2019 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, xác định chất màu trắng đục thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn P nghi là heroine có khối lượng 0,678 gam;
Tại bản kết luận giám định số: 36/GĐ-PC09 ngày 31/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn P gửi đến giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn P là 0,678 gam Heroine; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Tại cáo trạng số 03/CT–VKS-MC ngày 11/02/2020, của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đ truy tố Lò Văn P ra trước Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đ để xét xử về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Đ giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội giữ nguyên quan điểm quyết định truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, theo quy định của pháp luật hiện hành, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51/BLHS; Xử phạt bị cáo Lò Văn P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, kinh tế khó khăn nên đề nghị miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a,b,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 0,616 gam heroine còn lại sau khi trừ mẫu giám định; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 06 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh giấy trắng, 01 chiếc dao lam. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng. Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Lò Thị H 01 điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo nên đề nghị miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hồ sơ còn thể hiện: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông đã mua ma túy của bị cáo, do bị cáo không biết lai lịch của những người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Ngoài lần bắt quả tang Lò Văn P đang tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán thì trước đó P khai đã bán trái phép 03 gói heroine cho một người đàn ông thu lời bất chính 150.000 đồng, tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh, vì vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P phạm tội hai lần trở lên.
Luật sư trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251/BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai; Luật sư hoàn toàn đồng tình với cáo trạng của VKSND huyện M về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS và đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác nhưng phải ghi trong bản án. Luật sư đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; Miễn không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Sau khi nghe lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời bào chữa của luật sư, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và cũng không có ý kiến bổ sung gì với lời bào chữa của luật sư.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa không đối đáp gì với luật sư, bởi luật sư bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo phù hợp với quan điểm của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Xét về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Pấng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 23/12/2019, tại tổ dân phố 01, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đ; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 11 giờ 05 phút ngày 23/12/2019 tại tổ dân phố 01, thị trấn Mà, huyện M; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 23/12/2019 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện M; Bản kết luận giám định số 36/GĐ-PC09 ngày 31/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
. Xét hành vi mua 0,678 gam Heroine với mục đích bán cho người khác thu lời bất chính của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội nghiêm trọng; Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Nhà nước ta nghiêm cấm, mua bán, tàng trữ..., trái phép các chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào đều phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Bị cáo nhận thức và hiểu rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện ma túy và ham lợi nhuận để có tiền mua ma túy sử dụng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vậy, với hành vi và khối lượng ma túy nêu trên của bị cáo Lò Văn P đã phạm vào tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251/BLHS.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn P về tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận. Mức án HĐXX căn cứ về nhân thân; việc thành khẩn khai báo, và khối lượng ma túy, tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo để HĐXX áp dụng cho phù hợp. Các đề nghị khác của Luật sư HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sinh ra được bố mẹ nuôi dưỡng, học hết lớp 03/12 thì bỏ học. Năm 1989 xây dựng gia đình với Lò Thị P làm ăn sinh sống tại tổ dân phố số 01, thị trấn Mường Chà, huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Ngày 14/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã được xóa án tích. Ngày 23/12/2019, bị bắt, tạm giữ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ngày 26/12/2019, bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Chà ra quyết định khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bố vợ của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Vậy, cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng: như chúng ta đã biết Heroine là loại độc dược nó hủy hoại sức khỏe của con người, làm suy thoái phẩm chất đạo đức nếu ai sử dụng nó, làm khuynh gia bại sản, gia đình tan nát, hành vi mua bán trái phép chất ma túy và sử dụng chất ma túy của bị cáo, không những đã trực tiếp hủy hoại sức khỏe của bị cáo mà còn tiếp tay cho các đối tượng nghiện khác và người mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, từ những tính chất mức độ của vụ án Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ ma túy. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng mức khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt là phù hợp.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo và người đàn ông đã mua ma túy của bị cáo, do bị cáo không biết lai lịch của những người này nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Ngoài lần bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán thì trước đó bị cáo khai đã bán trái phép 03 gói heroine cho một người đàn ông thu lời bất chính 150.000 đồng, tuy nhiên ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh, vì vậy không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên HĐXX không đề cập xem xét xử lý trong vụ án này.
. Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không việc làm, kinh tế khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251/BLHS.
. Về xử lý vật chứng: 0,616 gam heroin còn lại sau khi trừ mẫu giám định, 01 phong bì niêm phong ban đầu, 06 mẫu giấy bạc màu vàng, 01 mảnh ni lon màu trắng, 01 mảnh giấy trắng, 01 dao lam màu bạc là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng là số tiền do phạm tội mà có; Đối với 01 điện thoại di động là của chị Lò Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tuyên trả lại cho chị H. Toàn bộ tang vật chứng thu giữ xử lý theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a,b,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS .
. Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
. Xét về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Chà, Điều Tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Chà, từ lúc khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đảm bảo về hình thức, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, luật sư, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” .
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38/BLHS.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn P 02 năm 06 tháng. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ ngày 23/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, b, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a,b,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106/BLTTHS :
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,616 gam heroin, 01 phong bì niêm phong ban đầu, 06 mẫu giấy bạc màu vàng, 01 mảnh ni lon màu trắng, 01 mảnh giấy trắng, 01 dao lam màu bạc.
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng
+ Trả lại chị Lò Thị H 01 điện thoại di động.
(Toàn bộ tang vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 12/02/2020 giữa Công an huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên).
3. Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016 của UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 27/02/2020. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo những gì liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 27/02/2020.
| Nơi nhận: - VKSND huyện M; - Công an huyện M; - Phòng GĐKT TAND tỉnh Đ; - Phòng 07 Viện kiểm sát tỉnh Đ; - Phòng PC10 – CA tỉnh Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - Chi cục Thi hành án DS, huyÖn M; - Hồ sơ THA; - UBND thị trấn M; - Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Quàng Văn Xôm |