- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn Th CĐP - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-ST Ngày 11/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa: Ông Hoàng Văn Giang;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tâm;
2. Ông Phạm Đức Tuế.
- Thư ký Phên tòa: Bà Hà Thị Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia Phên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 11/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2097/ TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hứa Văn Th (Tên gọi khác: Không). Sinh năm: 1968, tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT: Số nhà 57, tổ dân Phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Số nhà 57, tổ dân Phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: Lớp 10/10; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Hứa Văn M (đã chết) và Nguyễn Thị A (đã chết).
Gia đình bị cáo có 04 anh em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Vợ là Trần Thị H sinh năm: 1967 và 02con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số: 02/HSST ngày 22/02/1990 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hứa Văn Th 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”. Thời gian thử thách là 12 tháng.
- Bản án số: 48/2009/HSPT ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hứa Văn Th 16 tháng 07 ngày tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
2. Họ và tên: Phùng Văn L (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1968, tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Bãi Á 1, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Bãi Á 1, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Phùng Văn H, sinh năm 1941 và bà Phạm Hồng V (đã chết).
Gia đình bị cáo có 04 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ: Dương Thu H, sinh năm: 1973 và 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2002:
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số: 40/2011-HSST ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Phùng Văn L 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong bản án tháng 5/2012. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
3. Họ và tên: Lê Văn Ng (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1989, tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi ĐKHKTT: Xóm LC 1 (Nay là xóm LC), xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Xóm LC 1 (Nay là xóm LC), xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Bàng Thị H, sinh năm: 1955.
Gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ năm.
Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 1989 và 01 con, sinh năm: 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số: 164/2014/HSPT ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn Ng 06 tháng tù về tội “đánh bạc”. Số tiền dùng để đánh bạc trong vụ án: 2.450.000đ (hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
4. Họ và tên: Đỗ Xuân Ph (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1984, tại huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố NT ( Nay là Tổ dân PN), thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố NT ( Nay là Tổ dân PN), thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng;
Trình độ văn hoá: Lớp 12/12.: Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đỗ Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1965.
Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai.
Vợ: Đàm Thị Hạnh (Hiện đang sống ly thân). Có con 01 con sinh năm 2011.
Tiền án: Bản án số 26/2017/HSST ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Đỗ Xuân Ph 09 (chín) thàng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách tháng 01/2019.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 68/QĐ-XPHC ngày 12/3/2014 của Công an huyện Đ xử phạt Đỗ Xuân Ph 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
5. Họ và tên: Lưu Đình S (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1980, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT: Xóm LC 1 (Nay là xóm LC), xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: LC 1(Nay là xóm LC), xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 7/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Lưu Đình D (đã chết) và bà Ma Thị L (đã chết).
Gia đình có 11 anh, chị em ruột, bị cáo là con thứ 10.
Vợ: L Thị H, sinh năm: 1984 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
6. Họ và tên: Ma Thị TH (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1978, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố LN ( Nay là tổ dân phố PX), thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố LN (Nay là tổ dân phố PX), thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 6/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Ma Văn L (đã chết) và bà Phan Thị H (đã chết).
Gia đình có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ ba; chồng: Nguyễn Văn K, sinh năm: 1977 và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện đang tại ngoại tại địa phương.
(có mặt tại Phên tòa)
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Quang D, sinh năm 1964.
Trú tại: Tổ dân phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(vắng mặt tại Phên tòa)
- Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1964.
Trú tại: Tổ dân phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
( vắng mặt tại Phên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 09/9/2019, tổ công tác của Công an huyện Đ đã phát hiện, bắt quả tang tại nhà ở của Hứa Văn Th, sinh năm 1968, thuộc số nhà 57, tổ dân phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có 05 đối tượng gồm: Phùng Văn L, Ma Thị TH, Đỗ Xuân Ph, Lê Văn Ng, Lưu Đình S đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức “Đánh liêng”.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tây gồm 51 quân bài; 01 chiếc mành đã cũ; 01 chiếc chăn đã cũ.
Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ trên mành nơi các đối tượng ngồi đánh bạc 11.800.000 đồng (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng).
Ngoài ra còn thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, số imei: 866468035234956 và 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) của Lưu Đình Sinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3, số imei: 865251039663819 và 27.000 đồng (Hai mươi bảy nghìn đồng) của Ma Thị TH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, số imei: 353797082132568 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, biển kiểm soát 20F2-4095 của Đỗ Xuân Ph; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, số imei: 861570045897212, 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20C1-069.42 và 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) của Lê Văn Ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9pro, số imei: 357160081519721, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, biển kiểm soát: 20C1-078.88 và 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) của Phùng Văn L.
Quá trình điều tra xác định được Hứa Văn Th là chủ nhà, cùng tham gia đánh bạc nhưng đã đi ra ngoài trước đó. Ngày 13/9/2019, Th đã đến Công an huyện Đ, đầu thú khai nhận hành vi đánh bạc của mình.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Ngày 09/9/2019 Hứa VănTh đã nhắn tin và gọi điện thoại cho Phùng Văn L, Lưu Đình Sinh, Đỗ Xuân Ph, Ma Thị TH và Lê Văn Ng, rủ đến nhà Th để đánh bạc, các đối tượng đồng ý. Sau đó L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 20C1- 078.88 đến nhà Th, trên đường đi L gặp và chở Sinh đi cùng. Ng đi xe mô tô biển kiểm soát 20C1-06942, Ph đi xe môtô biển kiểm soát 20F2-4095 đến nhà Th. Khi L, Sinh, Ph, Ng, Th đang ngồi uống nước tại phòng khách nhà Th, thì TH đến, sau đó cả 06 người: Th, Ph, L, Sinh, Ng, TH cùng đi xuống gian bếp nhà Th để đánh bạc. Th lấy 01 chiếc mành rải xuống nền, lấy 01 chiếc chăn rải lên và lấy 01 bộ bài tây gồm 52 quân bài để dùng làm dụng cụ đánh bạc. Sau khi chuẩn bị xong đến khoảng 13 giờ 30 phút các đối tượng cùng nhau đánh bạc, tự thỏa thuận mức đặt cược vào bàn chơi (góp gà) là 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), mức cược thấp nhất là 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), cao nhất là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), quá trình đánh bạc Th có thu của Ph, L, Sinh, Ng và TH mỗi người 100.000 đồng. Hứa Văn Th là người chuẩn bị dụng cụ để đánh bạc và tham gia đánh bạc, khi đánh Th sử dụng số tiền khoảng 1.200.000đ; L khi tham gia đánh bạc có sử dụng số tiền khoảng 2.500.000đ; TH khi tham gia đánh bạc có sử dụng số tiền khoảng 600.000đ; Ph khi tham gia đánh bạc có sử dụng số tiền khoảng 1.800.000đ; Ng khi tham gia đánh bạc có sử dụng số tiền khoảng 2.000.000đ; Sinh khi tham gia đánh bạc có sử dụng số tiền khoảng 1.400.000đ.
Cách thức đánh bạc: Các con bạc đánh dưới hình thức “đánh liêng”, dụng cụ dùng để “đánh liêng” là bộ bài tây 52 quân bài, khi chơi tối thiểu là 02 người, tối đa là 06 người chơi. Khi bắt đầu chơi, những người chơi sẽ đặt một số tiền nhất định gọi là góp gà, sau đó một người chơi sẽ chia cho mỗi người 03 (ba) lá bài. Người chơi sẽ tiến hành đánh theo lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, người chơi đầu tiên sẽ là chủ bàn chơi hoặc người đã Th ván trước đó. Sau đó người chia bài, người Th ván trước đó sẽ tố bài, nếu người chơi tiếp theo không theo người tố sẽ úp bài, người nào theo để tiếp tục ván chơi sẽ bỏ số tiền vào bàn theo số tiền người tố và có thể tố thêm tiền. Kết thúc ván bài là khi chỉ còn một người không úp bỏ, hoặc không ai trên bàn tố thêm tiền nữa. Nếu chỉ còn một người theo bài để đánh thì người này sẽ là người Th cuối cùng. Nếu có hơn một người vẫn còn chơi thì sẽ tiến hành so bài những người này để tìm người Th cuộc. Việc so bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé gồm: Sáp lớn nhất: Ba quân bài có số giống nhau. Nếu 2 người chơi cùng được sáp sẽ so sánh giá trị quân bài theo thứ tự 2 < 3 < … < K < A (Bộ sáp Át sẽ là bộ to nhất). Liêng: Là bộ bài có 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, nếu cùng là liêng thì cũng so sánh giá trị quân bài lớn nhất như sáp. Nếu bộ bài không phải là Sáp hoặc Liêng, nhưng tất cả 3 quân đều là đầu người (J, Q, K) thì gọi là ảnh. Không phải Sáp, Liêng, ảnh, người chơi sẽ cộng giá trị các quân trong bài để tính điểm... Sau khi kết thúc ván, người chơi không bỏ bài nào hoặc có bộ bài mang giá trị cao nhất sẽ là người Th cuộc.
Các con bạc đánh bạc đến khoảng 15 giờ 45 phút ngày 09/9/2019, thì bị tổ Công tác của Công an huyện Đ đã phát hiện, bắt quả tang, bắt giữ các đối tượng và thu giữ vật chứng cùng các phương tiện như đã nêu ở trên.
Đối với 01 quân bài tây trong tổng số 52 quân bài. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu giữ được.
Sau khi điều tra làm rõ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 03 chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng. Số vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tạm gửi của Công an huyện Đ chờ xử lý.
Với hành vi nêu trên, tại cáo trạng số: 57/CT- VKS ngày 30/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Hứa VănTh, Phùng Văn L, Lưu Đình S, Đỗ Xuân Ph, Ma Thị TH và Lê Văn Ng về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321Bộ luật hình sự.
Tại Phên tòa ngày hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 11.800.000đ (Mười một triệu tám trăm nghìn đồng). Ngoài ra bị cáo Th tự nguyện nộp tại Công huyện Đ 500.000đ là số tiền bị cáo dùng vào để đánh bạc trước khi đi ra ngoài.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại Phên toà phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Hứa VănTh, Phùng Văn L, Lưu Đình S, Đỗ Xuân Ph, Ma Thị TH và Lê Văn Ng phạm tội: “Đánh bạc”.
Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 58, 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Hứa Văn Th từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 58, 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phùng Văn L từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 58, 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Ma Thị TH từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, 58, 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lưu Đình S từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lê Văn Ng từ 06 đến 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đỗ Xuân Ph từ 09 đến 12 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lưu Đình S, Đỗ Xuân Ph, Ma Thị TH và Lê Văn Ng mỗi bị cáo từ 10 triệu đến 12 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự tịch thu số tiền 11.800.000đ thu giữ tại chiếu bạc và 500.000đ của bị cáo Th giao nộp.
Truy thu số tiền 500.000đ đối với bị cáo Hứa VănTh.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước số điện thoại di động thu giữ của các bị cáo Phùng Văn L, Lưu Đình S, Đỗ Xuân Ph, Ma Thị TH và Lê Văn Ng.
Tịch thu tiêu hủy 51 cây bài tây và 01 chiếc mành, 01 chiếc chăn đã cũ.
Tạm giữ số tiền 80.000đ của bị cáo Phùng Văn L; Tạm giữ số tiền 8.600.000đ của bị cáo Lưu Đình S. Tạm giữ số tiền 27.000đ của bị cáo Ma Thị TH. Tạm giữ số tiền 20.000 đ của bị cáo Lê Văn Ng để bảo đảm thi hành án.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.
Trước khi HĐXX nghỉ nghị án: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại Phên toà; Căn cứ vào kết quả tranh lụân tại Phên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Phên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, điều luật truy tố: Tại Phên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại Phên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 12h ngày 09/9/2019 Hứa Văn Th dùng điện thoại của mình lần lượt gọi điện và nhắn tin cho các đối tượng Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph, Lưu Đình S và Ma Thị TH đến nhà Th để đánh bạc, các đối tượng như L, Ng, Ph, Sinh và TH đồng ý và đến nhà Th. Tại nhà Hứa Văn Th các đối tượng Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph, Lưu Đình S và Ma Thị TH phải nộp cho Th 100.000đ/01 người, Hứa Văn Th đã cất số tiền 500.000đ thu được từ các bị cáo L, Ng, Ph, S và TH, rồi cùng nhau xuống bếp nhà Hứa Văn Th thực hiện hành vi đánh bạc, Th là người lấy 52 quân bài tây, mành và chăn cũ để chải xuống nền bếp. Các bị cáo đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” bắt đầu từ khoảng 13hgiờ 30 phút đến khoảng 15 giờ thì bị cáo Th đã bỏ đi và mang theo số tiền 500.000đ, đến khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 09/9/2019 Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện và bắt quả tang tại gian bếp của gia đình Hứa Văn Th gồm có Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph, Lưu Đình S và Ma Thị TH. Thu giữ tại chiếu bạc 11.800.000đ(mười một triệu tám trăm nghìn đồng), 51 quân bài tây; 01 chiếc mành đã cũ; 01 chiếc chăn đã cũ.
Ngoài ra còn thu giữ của các bị cáo, cụ thể:
- Của Lưu Đình S 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, số imei: 866468035234956 và 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Của Ma Thị TH 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3, số imei: 865251039663819 và 27.000 đồng (Hai mươi bảy nghìn đồng) của Ma Thị TH.
- Của Đỗ Xuân Ph 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, số imei: 353797082132568 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, biển kiểm soát 20F2-4095.
- Của Lê Văn Ng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, số imei: 861570045897212, 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius biển kiểm soát 20C1-069.42 và 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
- Của Phùng Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9pro, số imei: 357160081519721, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision biển kiểm soát: 20C1-078.88 và 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng).
Đối với Hứa Văn Th, sau khi bỏ đi không tham gia đánh bạc nữa, đến ngày 13/9/2019 đã đến Công an huyện Đ đầu thú và tự nguyện giao nộp số tiền 500.000đ.
Cách thức đánh bạc: Khi bắt đầu chơi, những người chơi sẽ đặt một số tiền nhất định gọi là góp gà, sau đó một người chơi sẽ chia cho mỗi người 03 (ba) lá bài. Người chơi sẽ tiến hành đánh theo lượt theo chiều ngược chiều kim đồng hồ, người chơi đầu tiên sẽ là chủ bàn chơi hoặc người đã Th ván trước đó. Sau đó người chia bài, người Th ván trước đó sẽ tố bài, nếu người chơi tiếp theo không theo người tố sẽ úp bài, người nào theo để tiếp tục ván chơi sẽ bỏ số tiền vào bàn theo số tiền người tố và có thể tố thêm tiền. Kết thúc ván bài là khi chỉ còn một người không úp bỏ, hoặc không ai trên bàn tố thêm tiền nữa. Nếu chỉ còn một người theo bài để đánh thì người này sẽ là người Th cuối cùng. Nếu có hơn một người vẫn còn chơi thì sẽ tiến hành so bài những người này để tìm người Th cuộc. Việc so bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé gồm: Sáp lớn nhất: Ba quân bài có số giống nhau. Nếu 2 người chơi cùng được sáp sẽ so sánh giá trị quân bài theo thứ tự 2 < 3 < … < K < A. Liêng: Là bộ bài có 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, nếu cùng là liêng thì cũng so sánh giá trị quân bài lớn nhất như sáp. Nếu bộ bài không phải là Sáp hoặc Liêng, nhưng tất cả 3 quân đều là đầu người (J, Q, K) thì gọi là ảnh. Không phải Sáp, Liêng, ảnh, người chơi sẽ cộng giá trị các quân trong bài để tính điểm... Sau khi kết thúc ván, người chơi không bỏ bài nào hoặc có bộ bài mang giá trị cao nhất sẽ là người Th cuộc.
Tại Phên tòa các bị cáo khai khi tham gia đánh bạc đã sử dụng khoảng tiền cụ thể: Bị cáo Hứa Văn Th sử dụng khoảng 1.200.000đ; Bị cáo Phùng Văn L sử dụng khoảng 2.500.000đ; Bị cáo Đỗ Xuân Ph sử dụng khoảng 1.800.000đ; Bị cáo Lê Văn Ng sử dụng khoảng 2.000.000đ; Bị cáo Lưu Đình S sử dụng khoảng 1.400.000đ; Bị cáo Ma Thị TH sử dụng khoảng 600.000đ để tham gia đánh bạc.
Quá trình điều tra, cũng như tại Phên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhân toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội là 12.800.000 đ (Mười hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Đỗ Xuân Ph, Lê Văn Ng, Lưu Đình S, Ma Thị TH đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định
Điều 321: Tội đánh bạc:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến ba năm
…
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng triệu đồng”.
Về tính chất, hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này bị cáo Hứa Văn Th là người chủ động dùng điện thoại di động để liên hệ với các bị cáo khác đến nhà bị cáo để cùng thực hiện hành vi “đánh bạc”, thu tiền của các đối tượng đến đánh bạc, chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội như bài Tây, mành, chăn cũ phục vụ cho hành vi đánh bạc. Do đó, bị cáo Hứa Văn Th phải là người có vai trò chính trong vụ án. Các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Đỗ Xuân Ph, Lê Văn Ng, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph đều là người có nhân thân xấu, cụ thể: Bị cáo Hứa Văn Th đã 02 lần bị xét xử tại các bản án - Bản án số: 02/HSST ngày 22/2/1990 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt Hứa Văn Th 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân” và 48/2009/HSPT ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt Hứa Văn Th 16 tháng 07 ngày tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 02/10/2009, đương nhiên được xóa án tích.
Bị cáo Phùng Văn L đã bị xét xử tại Bản án số: 40/2011-HSST ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt Phùng Văn L 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong bản án tháng 5/2012,
Bị cáo Lê Văn Ng đã bị xét xử tại Bản án số: 164/2014/HSPT ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Văn Ng 06 tháng tù về tội “đánh bạc”. Chấp hành xong bản án tháng 8/2014.
Bị cáo Đỗ Xuân Ph đã bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi đánh nhau tại Quyết định xử phạt hành chính tại Quyết định số 68/QĐ-XPHC ngày 12/3/2014. Chấp hành xong Quyết định tháng 3/2014.
Các bản án trên các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lê Văn Ng đã chấp hành xong. Đến ngày thực hiện hành vi “đánh bạc” đã đương nhiên được xóa án tích.
Quá trình điều tra cũng như tại Phên toà, các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Đỗ Xuân Ph, Lê Văn Ng, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH đều thành khẩn khai báo do đó các bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách triệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Lưu Đình Sinh và Ma Thị TH thực hiện hành vi phạm tội lần này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo Sinh và TH được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đối với bị cáo Hứa Văn Th, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Công an huyện Đ đầu thú. Hứa Văn Th, Phùng Văn L có bố đẻ là người đã có nhiều cống hiến trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ xâm lược được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Lê Văn Ng có bố đẻ có nhiều cống hiến trong công tác, được UBND xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tặng giấy khen. Do đó, bị cáo Th, L và Ng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Đối với bị cáo Đỗ Xuân Ph có 01 tiền án tại Bản án số 26/2017/HSPT ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đỗ Xuân Ph 09 thàng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong thời gian thử thách tháng 01/2019. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy rằng các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đã thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện. Vì vậy, cần có hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo.
Đối với các bị cáo Lưu Đình S và Ma Thị TH có 02 tình tiết giảm nhẹ, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội.
Đối với bị cáo Phùng Văn L được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Mặc dù bị cáo đã bị TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án 40/2011-HSST ngày 30/11/2011, bị cáo đã được xóa án tích. Kể từ khi được xóa án tích bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có thể cho bị cáo được hưởng án treo vẫn bảo đảm tính giáo dục.
Trong vụ án này bị cáo Hứa Văn Th mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã bị xét xử nhiều lần tại các Bản án số: 02/HSST ngày 22/02/1990 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Bản án 48/2009/HSPT ngày 30/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Bị cáo đã được xóa án tích. Kể từ khi được xóa án tích bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, lần phạm tội này bị cáo có vai trò chính, chủ mưu tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian nhất định mới bảo đảm tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Lê Văn Ng, mặc dù có 02 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Bản thân bị cáo cũng đã bị xét xử 6 tháng tù giam tại Bản án 164/2014/HSPT ngày 18/6/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học. Do đó, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định mới bảo đảm tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Đỗ xuân Ph đã từng bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính năm 2014. Năm 2017 bị TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử tại Bản án số 26/2017/HSST ngày 25/7/2017 xử phạt bị cáo 09 (chín) tù cho hưởng án treo, bị cáo đã chấp hành xong bản án, nhưng chưa được xóa án tích lại phạm tội mới, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, cần cách ly bị cáo một thời gian nhất định mới bảo đảm tính giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt các bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật. Riêng đối với bị cáo Ma Thị TH, tại thời điểm phạm tội gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, nếu áp dụng hình phạt bổ sung không có tính khả thi, nên không áp dụng đối với bị cáo TH.
Về vật chứng của vụ án:
+ 01 bộ bài tây gồm 51 quân bài; 01 chiếc mành, đã cũ; 01 chiếc chăn đã cũ của bị cáo Hứa Văn Th là công cụ, dụng cụ để đánh bạc vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
+ Số tiền 12.300.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm nghìn đồng) các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, vì vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Cần truy thu của bị cáo Th số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đã dùng vào việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
+ Đối với số tiền 8.600.000 đồng (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) của Lưu Đình Sinh; 27.000 đồng (Hai mươi bảy nghìn đồng) của Ma Thị TH; 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) của Lê Văn Ng; 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) của Phùng Văn L, sau khi điều tra, xác minh làm rõ các bị cáo không dùng vào việc đánh bạc tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 của Lưu Đình Sinh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 của Ma Thị TH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, của Đỗ Xuân Ph; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, của Lê Văn Ng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9pro của Phùng Văn L đều đã qua sử dụng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án (là công cụ, dụng cụ liên lạc phục vụ cho việc đánh bạc, vì vậy cần tịch thu, bán hóa giá sung quỹ Nhà nước).
+ Đối với 01 quân bài trong tổng số 52 quân bài các đối tượng sử dụng làm phương tiện đánh bạc nhưng khi Công an bắt quả tang không thu giữ được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã truy tìm nhưng không được. 03 xe mô tô bị thu giữ, quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng. Vì vậy, HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại Phên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với từng bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận. Riêng đề nghị cho bị cáo Hứa văn Th được hưởng án treo là không phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi bị cáo Th đã thực hiện. Do vậy, HĐXX không chấp nhận đề nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại Điều 259, khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, Điều 299, Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Lê Văn Ng, Đỗ Xuân Ph, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hứa Văn Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/09/2019 đến ngày 27/09/2019.
Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi bị cáo chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Hứa Văn Th 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
2. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn L 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo Phùng Văn L 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
3. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn Ng 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/09/2019 đến ngày 27/09/2019.
Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi bị cáo chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn Ng 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
4. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Ph 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/09/2019 đến ngày 27/09/2019.
Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi bị cáo chấp hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Xuân Ph 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
5. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lưu Đình Sinh 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã BC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gia thử thách.
Trường hợp bị cáo Sinh thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo Lưu Đình Sinh 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
6. Áp dụng: Khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ma Thị TH 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gia thử thách.
Trường hợp các bị cáo TH thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 12.300.000đ (mười hai triệu ba trăm nghìn đồng). (Trong đó có 11.800.000đ thu giữ tại chiếu bạc và 500.000đ do bị cáo Th giao nộp).
+ Truy thu của bị cáo Th số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây (gồm 51 quân bài); 01 chiếc mành và 01 chiếc chăn đã cũ.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 của Lưu Đình Sinh và 8.600.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F3 của Ma Thị TH và 27.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s của Đỗ Xuân Ph; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s của Lê Văn Ng và 20.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG C9pro của Phùng Văn L và 80.000đ, để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 03/12/2019, giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; Ủy nhiệm chi ngày 05/12/219 giữa Công an huyện Đ và kho bạc nhà nước huyện Đ).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hứa Văn Th, Phùng Văn L, Đỗ Xuân Ph, Lê Văn Ng, Lưu Đình Sinh, Ma Thị TH, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá; - Công an huyện Định Hoá; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS huyện Định Hoá; - Các bị cáo; - Lưu HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa Phên tòa Hoàng Văn Giang |