- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trọng T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 21-01-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thà…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-ST Ngày 28-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Tạ Thị Hương
Ông Trần Quang Thương
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tiến - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân Quận D, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Phương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Bùi Trọng T, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Nguyễn Thị R; có vợ là Vũ Thị Thanh H, có 03 con lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-11-2019 đến ngày 15-11-2019 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Phạm Bá H, sinh năm 1968; vắng mặt.
+ Ông Hoàng Đình T, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 12-11-2019, T đi xe mô tô BKS 16N6-8120 đến khu vực bến xe Miền Tây, quận K mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vào túi quần bên phải phía trước rồi đi đến nhà bạn ở phường H, quận D chơi. Khi Bùi Trọng T đi về đến khu vực ngã ba quán rắn SL thuộc tổ 2, phường H, quận D thì bị tổ công tác của Bộ đội Biên phòng Đoàn Xá yêu cầu dừng xe kiểm tra, bắt quả tang hành vi tàng trữ ma túy cùng vật chứng, chuyển cho Công an quận D điều tra theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 578/KLGĐ ngày 13-11-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của Bùi Trọng T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5851 gam, là loại: Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra, Bùi Trọng T khai nhận hành vi như đã nêu trên.
Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 578/2019/PC09 là ma túy còn lại sau giám định, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý; 01 xe mô tô BKS 16N6-8120, kết quả xác minh là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị Q (chị dâu của T), trú tại phường Đ, quận D, khi cho mượn chị Q không biết T sử dụng để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho chị Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu vàng; 01 sạc pin dự phòng; 01 dây cáp điện thoại là của Bùi Trọng T không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã giao số tài sản này cho bà Nguyễn Thị R (mẹ đẻ của T) để quản lý.
Người đàn ông bán ma túy cho Bùi Trọng T, quá trình điều tra chưa xác định được căn cước lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSDK ngày 16-01-2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận D đã truy tố Bùi Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Trọng T với mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 12-11-2019 tại tổ dân phố số 2 phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Bùi Trọng T có hành vi cất giấu trái phép 1,5851 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, đe dọa, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân dễ làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt nghiêm khắc, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy: Điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong số 578/2019/PC09 là số ma túy còn lại sau giám định đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo Bùi Trọng T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trọng T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Trọng T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13-11-2019.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 21-01-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Trọng T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Trọng T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP Hải Phòng; - CQCSĐT Công an Q.D; - Cơ quan THAHS quận D; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận D; - Sở Tư pháp; - Trại Tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - TANDTP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |