vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 15/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Về mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/9/2019. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HS-ST
Ngày: 15/01/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lan

2. Ông Lường Khắc Tiệp

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Thế Anh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mtham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2019/HSST ngày 27/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-HS ngày 02/01/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình K, tên gọi khác (không), sinh ngày 12 tháng 7 năm 1989 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm G, xã P, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình Ph, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; Có vợ là Bùi Thị V, sinh năm 1992 và có 02 con.

Về tiền án: Tại bản án số: 03/2017/HS-ST ngày 08/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 12/02/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/9/2019 chuyển tạm giam ngày 22/9/2019. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 13/9/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M triệu tập Nguyễn Đình K đến trụ sở công an để làm rõ sự việc xảy ra xô xát theo tin trình báo. Quá trình làm việc, Cơ quan điều tra phát hiện Nguyễn Đình K có ma túy để trong bao thuốc lá nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Đình K khai nhận khoảng 21 giờ ngày 12/9/2019, Nguyễn Đình K đang chăm sóc con bị ốm tại Trung tâm y tế huyện M thì gặp 01 người đàn ông không quen biết. Nguyễn Đình K hỏi người đàn ông “ có ma túy bán không”, người đàn ông đó nói là “ Không có” và bảo nếu cần sẽ đi mua giúp, Kiên đồng ý. Khoảng 15 phút người đàn ông đó quay lại đưa cho Kiên 01 gói nhỏ bên trong có chứa ma túy, Kiên đưa cho người đàn ông đó 100.000 đồng. Sau khi mua được Nguyễn Đình K cất gói ma túy đó vào trong bao thuốc lá mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi Nguyễn Đình K đến cơ quan điều tra trình báo sự việc xô xát xảy ra sáng ngày 13/9/2019 thì bị cơ quan điều tra phát hiện có ma túy nên đã thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 238/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 19/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: Chất bột màu trắng trong gói giấy trong phong bì niêm phong ghi tên Nguyễn Đình K gửi giám định có khối lượng 0,10g( Không phẩy một gam) là ma túy, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 04/CT- VKS - HS ngày 27/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mtruy tố Nguyễn Đình K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đình K từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu toàn bộ số ma túy của bị cáo để tiêu hủy sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đình K, quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, không biết địa chỉ ở đâu nên không có căn cứ đề nghị tiếp tục xem xét.

Áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Đình K nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Đình K khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Ngày 12/9/2019 Nguyễn Đình K đã mua 01 gói ma túy có khối lượng là 0,10 gam với người đàn ông không quen biết mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, thu giữ tài liệu; Kết luận giám định; biên bản hỏi cung và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đình K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý cụ thể. Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

C) He roine, Cocain, Methamphetaminne, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã cố tình phạm tội.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân sấu là người nghiện ma túy; Về tình tiết tăng nặng , trong thời gian chưa được xóa án tích lại phạm tội mới đây là tình tiết tăng nặng “ tái phạm” được qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; về tình tiết giảm nhẹ quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại, bà ngoại tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến hạng nhì các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, thể hiện gia đình hoàn cảnh, bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ cần xử lý như sau: Đối với toàn bộ số ma túy của bị cáo hoàn trả sau giám định cần phải tịch thu để tiêu huỷ sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình K phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2.Về mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1và 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/9/2019.

3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tuyên tịch thu để tiêu hủy sau khi án có hiệu lực pháp luật: 01( một) phong bì niêm phong, mặt trước có ghi Công an tỉnh Hòa Bình - Phòng kỹ thuật hình sự. Mẫu giám định ma túy, mẫu trả lại CQTC, mẫu lưu CQGĐ,CBGĐ: Đỗ Thành Công, ngày niêm phong: 19/9/2019, số nhận giám định: 238 ngày 13/9/2019, số thông báo KLGĐ: 238 ngày 19/9/2019. Cơ quan trưng cầu: Cơ quan CSĐT huyện Msố: 33 ngày 13/9/2019. Tên đối tượng Nguyễn Đình K. Tên mẫu vật Heroine số lượng 01( 0,06 gam). Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và được đóng dấu giáp lai bằng 06 (sáu) dấu tròn của của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mtheo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số:20/THA ngày 13/01/2020.

3.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ