- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hồ Đăng Khoa - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Hồ Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-ST. Ngày: 13-01-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ba
2. Bà Lê Thị Ánh Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Xuân – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 191/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Hồ Đăng K, sinh năm 1999 tại L.
Nơi cư trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Thành P, sinh năm 1964 và bà Hồ Thị Xuân M, sinh năm 1960; Bị cáo là con út trong gia đình có 05 anh em và chưa có vợ con.
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/10/2019 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. (Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Hồ Đăng K bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 3/2019. Lúc 12 giờ ngày 14/10/2019, K sử dụng điện thoại Nokia có số thuê bao 0937700759 gọi cho một người bạn tên D (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy, D đồng ý. Sau đó, K đi đến khu vực nghĩa trang khu Kim Sơn, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành gặp D và mua của D hai túi ma túy với giá 400.000 đồng rồi cất giấu vào trong người. Đến 16 giờ cùng ngày, khi K đang đứng đợi bạn trước cổng nhà hàng Kh ở xã L, huyện L thì bị lực lượng Công an huyện L và Công an xã L kiểm tra phát hiện trong ví da ở túi quần sau bên phải có chứa 03 túi nylon có chứa các tinh thể máu trắng nghi là ma túy nên lực lượng công an đưa K cùng tang vật về Công an xã L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 1257/KLGĐ-PC09 ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4048 gam, loại: Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ: 01 gói đã được niêm phong chứa ma túy còn lại sau giám định số 1257/KLGĐ-PC09 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen trắng có số thuê bao 0937700759 được chuyển đến Chi Cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSLT ngày 23/12/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Võ Hồ Đăng K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị xử phạt bị cáo Võ Hồ Đăng K mức án từ 16 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong số 1257/KLGĐ-PC09.
Đề nghị sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen trắng có số thuê bao 0937700759.
Đối với người tên D bán ma túy cho K, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hồ Đăng K khai nhận:
Lúc 16 giờ ngày 14/10/2019, K đang đứng đợi bạn trước cổng nhà hàng Kh ở xã L, huyện L thì bị lực lượng Công an huyện L và Công an xã L kiểm tra phát hiện trong ví da ở túi quần sau bên phải của K có 03 túi nylon chứa ma túy có khối lượng 0,4048 gam, loại: Methamphetamine.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Hồ Đăng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo K là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về biện pháp tư pháp, vật chứng vụ án:
Tuyên tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 1257/KLGĐ-PC09 ngày 21/10/2019 chứa ma túy còn lại sau giám định, tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen trắng có số thuê bao 0937700759.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vấn đề khác: Đối với người tên D bán ma túy cho K, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Võ Hồ Đăng K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ Hồ Đăng K 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/10/2019.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số 1257/KLGĐ-PC09 ngày 21/10/2019 chứa ma túy còn lại sau giám định.
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen trắng có số thuê bao 0937700759.
Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2019.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Hồ Đăng K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND H. Long Thành (1); - Công an H. Long Thành (2); - Chi cục THADS H. Long Thành (3); - Bị cáo (1); - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng (6). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc An |