vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Tuyên án 08/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túyhoàn trả mẫu vật sau giám định(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, t…

Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tạ Văn Cphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hìn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn C - Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túyhoàn trả mẫu vật sau giám định(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, t…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2020/HS - ST
Ngày:08 -01 -2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đoàn Trung Tuyến.

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên tòa:Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Trường-Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại trường THPT Quất Lâm, thị trấn Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 12năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:113/2019/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Tạ Văn C; sinh ngày 03/5/1995, tại huyện GT, tỉnh NĐ; nơi cư trú: Tổ dân phố BT, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Tạ Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y; sinh năm 1959; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày24/9/2019 đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ C an huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; “có mặt”.

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị Y; sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ dân phố BT, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh NĐ; “có mặt”.

Anh Bùi Ngọc Gi; sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố BT, thị trấn QL, huyện GT, tỉnh NĐ; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 24/9/2019, tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Giao Thủy tuần tra tại khu vực xóm 2 QT, xã GT1, huyện GT, tỉnh NĐphát hiện Tạ Văn C điều khiển xe máy BKS 18Z9

- 3032 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu C dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, C tự giác giao nộp 01 gói nhỏ gói bằng nilon bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Tạ Văn C khai đó là ma túy vừa mua với mục đích để sử dụng cho bản thân được niêm phong ký hiệu M. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của C 180.000 đồng, 02 điện thoại di động đã cũ (01 điện thoại ghi chữ Masstel, 01 điện thoại ghi chữ Itel) và 01 xe máy nhãn hiệu Dragon, BKS 18Z9-3032.

Tổcông tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định. Ngày 24/9/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã đưa 01 gói chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ củaC đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 910/GĐKTHS ngày 25/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu rắn dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilông được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M: 0,416 gam”.

Tại Bản cáo trạng số:01/CT - VKS ngày 12/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Tạ Văn Cvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy thực hành quyền C tố tại phiên tòa giữ nguyên bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:Về tội danh: Tuyên bố bị cáoTạ Văn Cphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáoTạ Văn Ctừ 18 tháng đến 24tháng tù.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túyhoàn trả mẫu vật sau giám định.Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối vớibị cáo.

Tại phiên tòa,bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội vàkhông tranh luận gì.Trong lời nói sau cùng, bị cáo tỏ rõ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai củabị cáo tại phiên tòa phù hợp vớicác tài liệu, chứng cứ khác của vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định số910/GĐKTHS ngày 25/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sựCông an tỉnh Nam Định. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định:Khoảng12 giờ 45 phút ngày 24/9/2019, tại khu vực xóm 2 QT xã GT1, huyện GT, tỉnh NĐ, Tạ Văn C có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,416 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân.Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a……………………..

c. …… Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố Tạ Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm ma túy nóichung và ma túy đá nói riêngđang gia tăng cả về tính chất và mức độ. Tình trạng sử dụng ma tuý trong lứa tuổi thanh, thiếu niên diễn biến phức tạp, độ tuổi của người nghiện ngày càng “trẻ hóa”. Methamphetamine còn gọi là ma túy đá là một trong những chất gây nghiện nguy hiểm bậc nhất được biết đến hiện nay trên thế giới. Người sử dụng nhiều ma túy đá sẽ bị tâm thần phân liệt, có hiện tượng ảo giác, luôn nghi ngờ có người theo dõi mình, muốn hãm hại đầu độc, lúc nào cũng ám ảnh có người muốn giết mình hay nghe xui khiến làm điều ác…từ đó, có nhiều vụ án mạng đã xảy ra. Trước thực trạng đó, Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy mở phiên tòa xét xử lưu động tại trường THPT Quất Lâm để tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức cho học sinh trong C tác phòng, chống ma túy để tránh gây ra nhiều hệ lụy về sức khỏe, ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em, khiến gia đình tiêu tán cũng như huỷ hoại xã hội.Vì tương lai của bản thân và đất nước, ngay bây giờ mỗi em học sinh hãy có những hiểu biết và hành động đúng đắn trong việc phòng chống ma túy, “đẩylùi tệ nạn ma túy ra khỏi học đường” và “nói không với ma túy”.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.

[5]Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sựquy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấybị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định ….Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ ăn năn hối cải do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

[7.1] Đối với ma túyhoàn trả mẫu vật sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hànhcần tịch thu cho tiêu hủy.

[7.2] Đối với 02 chiếc điện thoại di động và 180.000 đồng thu giữ của C, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của C, không liên quan tới hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã trả lại cho gia đình C.

[7.3] Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Dragon, BKS 18Z9 - 3032 thu giữ của C, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của bà Nguyễn Thị Y (là mẹ đẻ của C). Khi C lấy xe đi mua ma túy, bà Y không có nhà, bà Y không biết việc C lấy xe để đi mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy đã trả lại chiếc xe trên cho bà Nguyễn Thị Y là phù hợp.

[8] Về nguồn gốc số Methamphetamine của Tạ Văn C có để cất giấu để sử dụng, C khai: Khoảng 12 giờ ngày 24/9/2019, C đi xe máy từ nhà đến chợ xã GT1, mua qua khe cửa sắt của một nhà trong chợ xã Giao Tiến 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. C không biết nhà đó là của ai,không nhớ vị trí, đặc điểm ngôi nhà đó và không nhìn thấy người bán ma túy đá cho mình. Trên đường về thì bị kiểm tra bắt giữ. Quá trình điều tra không xác định được người đã bán số Methamphetamine cho C nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249;điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luậtHình sự:Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Cphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt: Bị cáo Tạ Văn C01(một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày24/9/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túyhoàn trả mẫu vật sau giám định(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Tạ Văn Cphải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:Bị cáoTạ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ