- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị Thu N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đỗ Thị Thu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 03/2020/HS-ST Ngày 13- 02- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn Hà
+ Ông Trần Văn Trọng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Minh Quế - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Thu N - sinh năm: 1987 tại thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 455/7A đường B, phường C, quận D, thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở: Không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đỗ Thanh T (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Thu H (đã chết); gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Bị bắt: 14/10/2019 (Có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Kim T- sinh năm: 1987; địa chỉ: khu phố H, thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 14/10/2019, tại quán cà phê Chân Quê thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an thị trấn P đã bắt quả tang Đỗ Thị Thu N đang tàng trữ trái phép ma túy tổng hợp (gia đá).
Tang vật thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon màu trắng (được hàn kín, bên trong chứa chất kết tinh không màu, trong suốt) được thu giữ trên tay trái của N, N khai nhận là ma túy tổng hợp (gia đá) và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có số imei1: 868.125.043.758.479; imei2: 868.125.043.758.461 kèm theo sim.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa Đỗ Thị Thu N khai nhận:
Đỗ Thị Thu N bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2019. Ngày 12/10/2019,N đến bến xe Quận D, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Ngày 13/10/2019,N cất gói ma túy trong người rồi đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh xuống thị trấn P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chơi. Đến 11 giờ 40 phút ngày 14/10/2019,N đón xe ôm đi đến trước quán cà phê Chân Quê thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định số 358/GĐMT-PC09 (Đ2) ngày 21/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: “Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín được niêm phong trong một phong bì màu trắng có hình dấu của Công an thị trấn P, Công an huyện Đ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Nguyễn Đức T, Lê Văn D, Đỗ Thị Thu N, Đặng Văn T, Huỳnh Thị Kim T, gửi đến giám định có khối lượng là 1,5385 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”.
Cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát huyện Đ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội như sau:
Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên bố Đỗ Thị Thu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt N từ 18 đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong đánh số 358 ngày 21 tháng 10 năm 2019 do Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại sau giám định; hoàn trả cho cho N 01 điện thoại di dộng kèm theo sim đang tạm giữ.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, thống nhất với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là sai và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Đỗ Thị Thu N là đối tượng nghiện ma túy, vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trước quán Café Chân Quê thuộc khu phố P, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lực lượng chức năng đã bắt quả tang N có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy với trọng lượng 1,5385 gam nhằm mục đích sử dụng.
Căn cứ theo kết luận giám định số 358/GĐMT – PC09 (Đ4) ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận: Mẫu kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 gói nilong thu giữ của Đỗ Thị Thu N có khối lượng 1,5385gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi nêu trên của Đỗ Thị Thu N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
: Về tình tiết tăng nặng: Không có
: Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về x lý v t chứng v án:
- 01 (Một) gói niêm phong được đánh số 358 ngày 21/10/2019 bên trong chứa số ma túy còn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vật cấm tàng trữ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01(Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có Imei 1: 2868.125.043.758.479, Imei 2: 868.125.043.758.461 kèm theo sim là tài sản cá nhân của Đỗ Thị Thu N, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên hoàn trả cho N.
Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho N là T, do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch rõ ràng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được và sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Đỗ Thị Thu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Đỗ Thị Thu N 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 10 năm 2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong chứa ma túy (Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 1,4908gam) được đánh số 358 ngày 21/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có chữ ký Phó trưởng phòng Thượng tá Lê Bá H, chữ ký Giám định viên Võ Thanh H, chữ ký Lê Văn D, chữ ký Đỗ Thị Thu N, chữ ký Đặng Văn T, chữ ký Lê Minh T.
- Hoàn trả cho Đỗ Thị Thu N 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh có số Imei 1: 868.125.043.758.479, Imei 2: 868.125.043.758.461 kèm theo 01 (Một) sim.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 13/BB ngày 26 tháng 12 năm 2019).
3. Về án phí: Đỗ Thị Thu N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (13/02/2020), bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Lu t Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Đất Đỏ; - Công an tỉnh BR-VT; - Sở tư pháp tỉnh BR-VT; - Công an huyện Đất Đỏ; - Chi cục THADS huyện Đất Đỏ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thanh Tuyền |