- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thế H "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Giao b cáo Lê Thế H cho y ban nhân dân Ph ờng 1, th xã Q, tỉnh Quảng Tr giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-PT Ngày 15-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Đinh Viết Nam.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thiết Hùng;
Ông Trần Việt Trung.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Th Thanh Nhàn – Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Tr .
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tr ờng - Kiểm sát viên.
Ngày 15/01/2020, tại Hội tr ờng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Tr xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2019 đối với b cáo Lê Thế H, do có kháng cáo của b cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Tr .
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lê Thế H; sinh ngày 18 tháng 01 năm 1984 tại tỉnh Quảng Tr ; nơi c trú: Khu phố 4, Ph ờng 1, th xã Q, tỉnh Quảng Tr ; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Lê Anh Đ và bà Lê Th D; vợ, con: Ch a có. Tiền án, tiền sự: Không.
B cáo đ ợc áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi c trú”; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1991; nơi c trú: Thôn 7, xã T1, huyện T, tỉnh Quảng Tr . Đã chết.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Quang K, sinh năm 1967 và bà Lê Th B, sinh năm 1965; đều trú tại: Thôn 7, xã T1, huyện T, tỉnh Quảng Tr .
Người đại diện theo ủy quyền của các đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Quang K, sinh năm 1967; trú tại: Thôn 7, xã T1, huyện T, tỉnh Quảng Tr (biên bản cử ng ời đại diện hợp pháp ngày 20/6/2019).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/5/2019, sau khi uống r ợu tại xã T2, huyện T, tỉnh Quảng Tr , Lê Thế H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74E1-07524 chở Nguyễn Quang T3; Nguyễn Quang N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thanh N1; Lê Văn N1 điều khiển xe mô tô chở Lê Văn C; Lê Hữu L1 điều khiển xe mô tô chở Lê Hữu S1, chạy theo Quốc lộ 49C h ớng từ th xã Q về th trấn B1để về thôn 7, xã T1. Khi đến Km9+960 Quốc lộ 49C (đoạn đ ờng gần cầu M) thuộc đ a phận thôn Q1, xã T4, huyện T (đây là khu vực đang thi công, có biển cảnh báo công tr ờng đang thi công và rào chắn cảnh báo nguy hiểm đặt ở phía bên trái làn đ ờng), H quan sát thấy h ớng ng ợc chiều không có ph ơng tiện l u thông nên điều khiển xe chạy sang làn đ ờng bên trái và v ợt lên để nói chuyện với Nguyễn Thanh N1 (đang chạy phía tr ớc) với tốc độ khoảng 40 – 50km/h. Do không đi đúng làn đ ờng, không làm chủ đ ợc tốc độ nên xe mô tô do H điều khiển và vào biển cảnh báo công tr ờng đang thi công, làm H và T3 ngã xuống mặt đ ờng. Anh T3 sau khi b ngã đã đ ợc cả nhóm đ a về Bệnh viện khu vực Bồ Bản để điều tr , sau đó đ a về nhà ông Lê Hữu C1 ở thôn 7, xã T1 ngủ lại; đến sáng ngày 26/5/2019 thì chết.
Tại kết luận giám đ nh số 473/KLGĐ-PC09 ngày 30/5/2019 và Công văn số 217/CV-PC09 ngày 15/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Tr kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Quang T3 là chấn th ơng sọ não; nồng độ cồn trong máu 84,971mg/100ml. Cơ chế hình thành th ơng tích trên tử thi Nguyễn Quang T3 là do va chạm với vật tày.
Tại kết luận giám đ nh số 497/KLGĐ-PC09 ngày 06/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Tr kết luận:
- V trí va chạm giữa xe mô tô BKS 74E1-07524 với biển báo hiệu công trình là phía bên trái xem mô tô, bao gồm các v trí ốp nhựa g ơng chiếu hậu, ốp tay nắm, cánh mang, ½ phía tr ớc cần đạp số va chạm với phần phía bên phải của biển báo hiệu công trình (nhìn từ phía tr ớc).
Tại thời điểm xảy ra va chạm, xe mô tô tác động vào biển báo hiệu công trình theo chiều h ớng từ th xã Quảng Tr đi B1.
- V trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô với biển báo hiệu công trình trên hiện tr ờng là t ơng ứng với v trí chân đế phía bên phải biển hiệu công trình (nhìn từ phía tr ớc) đ ợc đặt trên hiện tr ờng thuộc phần đ ờng theo h ớng từ th xã Q đi B1.
B n án h nh s s thẩm s
0 9 HS-ST ngày 05/11/2019 của T a án nhân dân huyện T, t nh Qu ng Trị đ quy t định:
Tuyên bố b cáo Lê Thế H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. p dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt b cáo Lê Thế H 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật đ nh.
Ngày 18/11/2019, b cáo Lê Thế H có đơn kháng cáo xin đ ợc h ởng hình phạt cải tạo không giam giữ, với lý do:
- B cáo là lao động chính trong gia đình.
- Sau khi phạm tội, b cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
- B cáo phạm tội lần đầu, ch a có tiền án, tiền sự, có ông bà nội, ngoại là những ng ời có công với cách mạng.
- B cáo đã tự nguyện bồi th ờng thiệt hại cho gia đình b hại số tiền 10.000.000 đồng, nh ng gia đình b hại đã trả lại số tiền trên. Sau đó b cáo bồi th ờng thêm 35.000.000 đồng nh ng gia đình nạn nhân không nhận,
Ngày 10/01/2020, b cáo Lê Thế H đã thay đổi, bổ sung kháng cáo, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho b cáo đ ợc h ởng án treo.
Tại phiên t a phúc thẩm:
- B cáo Lê Thế H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Toà án cấp sơ thẩm xét xử b cáo về tội “Vi phạm quy đ nh về tham gia giao thông đ ờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật. B cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và cho b cáo đ ợc h ởng án treo, đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Tr đề ngh HĐXX cho b cáo H đ ợc h ởng thêm tình tiết giảm nhẹ “ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ khác quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo, giữ nguyên hình phạt và cho b cáo đ ợc h ởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của b cáo Lê Thế H phù hợp với các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của b cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, b cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của b cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của b cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với kết luận giám đ nh c ng nh các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 25/5/2019, Lê Thế H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74E1-07524 chở Nguyễn Quang T3, đến khu vực đang thi công có biển cảnh báo nguy hiểm nh ng không giảm tốc độ, không đi về phía bên phải theo chiều đi của mình, đi không đúng làn đ ờng quy đ nh nên đã gây ra vụ tai nạn giao thông làm Nguyễn Quang T3 chết. Nh vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử b cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của b cáo xin giảm nhẹ hình phạt và h ởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
B cáo là ng ời có đầy đủ năng lực ch u trách nhiệm hình sự, nhận thức đ ợc pháp luật và xã hội nh ng khi điều khiển xe mô tô đã không tuân thủ các quy đ nh về an toàn giao thông trong quá trình tham gia giao thông, d n đến việc phạm tội. Hành vi phạm tội của b cáo không những trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại tính mạng và tài sản của ng ời khác mà còn ảnh h ởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội ở đ a ph ơng.
Cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất hành vi, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt 15 tháng tù đối với b cáo là có căn cứ và thỏa đáng. Tuy nhiên, qua đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của b cáo tại phiên tòa phúc thẩm, thấy rằng: Đoạn đ ờng đang đ ợc thi công, sửa chữa nh ng biển báo hiệu nguy hiểm không gắn đèn cảnh báo, do đó đêm tối đã hạn chế tầm nhìn quan sát của b cáo; b hại khi tham gia giao thông không đội m bảo hiểm, đã vi phạm khoản 2 Điều 30 Luật Giao thông đ ờng bộ; sau khi tan nạn xảy ra, b hại đ ợc đ a đi cấp cứu, mặc dù b cáo và cả nhóm bạn khuyên nhủ đ a đi bệnh viện tuyến trên để cứu chữa nh ng anh T3 một mực từ chối, nên không đ ợc cứu chữa k p thời, hậu quả anh T3 chết là nằm ngoài suy nghĩ của b cáo. Nếu đ ợc cấp cứu k p thời, hậu quả xấu có thể không xảy ra. Do đó trong vụ án này lỗi không hoàn toàn thuộc về b cáo.
Tại giai đoạn phúc thẩm, gia đình b hại có đơn đề ngh HĐXX phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho b cáo và xin cho b cáo đ ợc cải tạo tại đ a ph ơng với lý do: B cáo đã ăn năn hối cải, có trách nhiệm với gia đình b hại và không yêu cầu bồi th ờng dân sự (Theo lời khai của b cáo, gia đình b hại chỉ nhận 20.000.000 đồng để hỗ trợ xây lăng mộ cho anh T3 và b cáo đã chuyển số tiền này). Bên cạnh đó, b cáo cung cấp tài liệu chứng minh ông, bà nội của b cáo là ng ời có công với Nhà n ớc, b cáo đ ợc chính quyền đ a ph ơng xác nhận là lao động chính, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
HĐXX thấy rằng: Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (ăn năn hối cải) và các tình tiết giảm nhẹ khác quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đ ợc phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm mà cấp sơ thẩm ch a áp dụng, cần phải cho b cáo đ ợc h ởng theo quy đ nh của Bộ luật hình sự.
Bản thân b cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, có nơi c trú rõ ràng nên không cần cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho b cáo đ ợc cải tạo tại đ a ph ơng, giao b cáo cho chính quyền đ a ph ơng nơi b cáo c trú giáo dục, theo dõi c ng đủ tác dụng răn đe, cải tạo b cáo sớm trở thành công dân tốt theo quy đ nh tại khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề ngh HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo, giữ nguyên mức án 15 tháng tù và cho b cáo đ ợc h ởng án treo. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: B cáo không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh.
Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo Lê Thế H và sửa bản án hình sự sơ thẩm số 17/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Tr , giữ nguyên hình phạt và cho b cáo h ởng án treo.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt b cáo Lê Thế H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cho h ởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mư i) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 15/01/2020.
Giao b cáo Lê Thế H cho y ban nhân dân Ph ờng 1, th xã Q, tỉnh Quảng Tr giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
2. Về án phí: p dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ờng vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án: B cáo Lê Thế H không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/01/2020./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Tr ; - TAND, VKSND h. T; - Công an huyện T; - CC.THADS huyện T; - Sở T pháp tỉnh Quảng Tr ; - B cáo; - L u: Hồ sơ vụ án, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Viết Nam |