- Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS - PT. Ngày: 09 - 01 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các thẩm phán:
Ông Đặng Văn Quyết.
Bà Nguyễn Thị Kim Dung.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 /01/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 290/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo Trần Văn T, do có kháng cáo của ông Nguyễn Văn X là người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Nguyễn văn Khánh (đã chết) đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2019/HS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Thôn 5, TN, xã QV, thành phố SS, tỉnh TH;
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12;
Con ông Trần Văn T, sinh năm 1960;
Con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964;
Vợ là: Hoàng Thị T, sinh năm 1993;
Gia đình có 3 anh chị em bản thân là thứ 3;
Tiền án; tiền sự: không;
Bị cáo đầu thú, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).
* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1989 (đã chết)
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
Bà Đào Thị L, sinh năm 1965 ( Vắng mặt).
Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1964 ( Có mặt).
Bà Đào Thị L ủy quyền cho ông Nguyễn Văn X tham gia phiên tòa.
Cùng địa chỉ: Thôn ĐX, thị trấn LB, huyện KĐ, tỉnh HY.
*Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn X là người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Nguyễn Văn K (đã chết)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1987 ( Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Nhị Hà, xã Sơn Hà, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
* Bị đơn dân sự: Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL.
Địa chỉ: Khu công nghiệp SK, thành phố B, tỉnh Bắc giang
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thanh T - Phó giám đốc công ty (Có mặt).
Trong vụ án còn có 02 người đại diện hợp pháp của bị hại, 08 người bị hại và 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo,Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Văn T có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC và là công nhân lái xe cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn lưới thép HL, địa chỉ: Khu công nghiệp SK, thành phố B, tỉnh Bắc giang. Khoảng 13 giờ ngày 27/5/2018, Trần Văn T được điều động điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-075.33 chở thép đi từ Công ty HL theo đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang (hướng từ thành phố B, tỉnh Bắc giang đi tỉnh Bắc Ninh) để xuống tỉnh Hưng Yên giao hàng. Ngồi cùng trên xe có anh Nguyễn Đức Đ (là phụ xe). Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi đến km số 126+300m đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang (gần khu vực cầu vượt) thuộc địa phận xã HN, huyện VY, do ngủ gật, không làm chủ được tay lái nên T đã để xe ô tô do mình điều khiển đi vào đường dừng khẩn cấp bên phải đường (theo chiều đi của T). Khi thấy T đi vào đường dừng khẩn cấp và phát hiện phía trước có xe ô tô khách biển kiểm soát 29B-035.97 đang dừng ở làn đường dừng khẩn cấp, anh Đ hô “Có xe phía trước kìa”. T giật mình tỉnh dậy đồng thời đánh tay lái xe sang bên trái để tránh nhưng do khoảng cách giữa 02 xe quá gần, xe ô tô tải đã đâm vào phía sau xe ô tô khách đẩy xe ô tô khách văng về phía trước khoảng 100m thì dừng lại. Hậu quả: 02 hành khách ngồi trên xe khách tử vong, gồm: anh Lò Văn T và anh Nguyễn Văn K; 09 người khác bị thương, gồm: anh Nguyễn Thành C; anh Nguyễn Như L; chị Hoàng Thị B; chị Đào Thị T; chị Hoàng Thị T; cháu Đỗ Viết K, sinh năm 2012 (là con trai chị Hoàng Thị T); anh Vũ Văn H; anh Nguyễn Văn T (là phụ xe ô tô khách) và anh Nguyễn Đức Q (là lái xe ô tô khách); 02 xe ô tô bị hư hỏng. Sau khi tai nạn xảy ra, T xuống xe ô tô cùng mọi người đưa các nạn nhân đi cấp cứu rồi đến Công an huyện Việt Yên đầu thú.
Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Kết quả như sau:
* Kết quả khám nghiệm hiện trường (Phải trái tính theo hướng từ thành phố B, tỉnh Bắc giang đi tỉnh Bắc Ninh, lấy mép đường bên phải làm chuẩn):
Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông tại km số 126+300 đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng, phẳng, rộng 11,40m; được chia thành hai làn đường xe chạy, mỗi làn rộng 3,60m được ngăn cách bằng một vạch sơn màu trắng đứt quãng rộng 0,15m và một làn đường dừng khẩn cấp rộng 3,0m được ngăn cách bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m. Sát dải phân cách cứng ở giữa đường có một khoảng đường rộng 0,65m được ngăn cách với làn đường xe chạy bằng một vạch sơn liền màu trắng rộng 0,20m. Tại hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông, phía trên là cầu vượt đường cao tốc, hai bên đường là đường dân sinh. Cách hiện trường vụ tai nạn 500m về phía thành phố B, tỉnh Bắc giang có biển báo “Giữ khoảng cách an toàn”, sau đó là các biển báo “0 m”, “70 m” và “140 m” ở lề đường bên phải. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn nằm trong khu vực có biển báo hiệu tốc độ tối thiểu 60km/giờ, tốc độ tối đa 100km/ giờ.
Những dấu vết để lại trên hiện trường cụ thể như sau:
- Trên làn đường dừng khẩn cấp bên phải để lại bãi mảnh kính vỡ (ký hiệu số 1), kích thước (7,9x3,0)m. Tâm bãi mảnh kính vỡ cách mép đường bên phải 2,0m, cách mép cầu vượt 7,0m, cách trụ cầu vượt bên phải đường 9,50m. Cuối bãi mảnh kính vỡ cách mép cầu vượt 3,10m.
- Cách tâm bãi mảnh kính vỡ số 1 về phía tỉnh Bắc Ninh 4,80m là đầu mép bên phải vết trượt lốp thứ nhất (ký hiệu số 2), vết trượt lốp nằm trên làn đường dừng khẩn cấp, kích thước (30 x 0,20)m. Đầu mép bên phải của vết trượt lốp cách mép đường bên phải 1,50m. Cuối mép bên phải của vết trượt lốp cách mép đường bên phải 0,70m. Đầu vết trượt lốp cách mép cầu vượt 2,20m.
- Cách đầu bên trái của vết trượt lốp số 2 khoảng cách 1,40m là vết trượt lốp thứ hai trên mặt đường (ký hiệu số 3), kích thước (24,90 x0,20)m. Đầu mép bên phải của vết trượt lốp cách mép đường bên phải 3,30m. Cuối mép bên trái của vết trượt lốp cách mép đường bên phải là 2,60m.
- Cách mép bên trái đầu vết trượt lốp ký hiệu số 2 khoảng cách 0,80m và cách mép bên phải đầu vết trượt lốp số 3 khoảng cách 1,0m là đầu mép bên phải vết trượt lốp thứ ba (ký hiệu số 4), vết trượt lốp nằm trên làn đường dừng khẩn cấp có kích thước (37,60 x0,20)m. Mép bên phải đầu vết trượt lốp cách mép đường bên phải 2,30m. Cuối vết trượt lốp nằm dưới mặt lăn bánh lốp trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C- 075.33 và cách mép đường bên phải 0,90m.
- Cách đầu mép bên trái của vết trượt lốp số 3 khoảng cách 2,0m là đầu mép bên phải của vết trượt lốp thứ tư nằm trên mặt đường (ký hiệu số 5), kích thước (38,70 x0,20)m. Mép bên phải đầu vết trượt lốp cách mép đường bên phải là 4,23m. Cuối vết trượt lốp nằm dưới vị trí mặt lăn bánh lốp trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98C- 075.33.
- Cách cuối mép bên trái của vết trượt lốp số 2 khoảng cách 2,0m là trục bánh xe cuối cùng phía sau bên phải xe ô tô biển kiểm soát 98C- 075.33 đỗ trên làn đường dừng khẩn cấp (ký hiệu số 6). Đầu xe hướng Bắc Ninh, đuôi xe hướng Bắc Giang. Trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 0,90m; trục bánh xe cuối cùng bên phải cách mép đường bên phải 1,60m.
- Cách đầu mép bên phải của vết trượt lốp ký hiệu số (2) khoảng cách 6,20m là tâm cánh cửa xe ô tô (ký hiệu số 7). Cánh cửa xe ô tô có kích thước (1,80 x1,20)m, nằm trên làn đường dừng khẩn cấp. Tâm cánh cửa xe cách mép đường bên phải 1,30m.
- Cách tâm cánh cửa xe ký hiệu số (7) khoảng cách 6,0m là tâm bãi mảnh kính vỡ (ký hiệu số 8). Bãi mảnh kính vỡ nằm trên làn đường dừng khẩn cấp, kích thước (3,0x2,4)m. Tâm bãi mảnh kính vỡ cách mép đường bên phải 1,40m và cách trục bánh xe cuối cùng phía sau bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C -075.33 là 15,0m.
- Cách trục bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98C- 075.33 khoảng cách 2,90m là vết dầu trên mặt đường (ký hiệu số 9), kích thước (14,0 x 4,0)m, tâm đầu vết dầu cách mép đường bên phải 2,40m. Cuối vết dầu nằm dưới gầm xe ô tô biển kiểm soát 29B-035.97.
- Xe ô tô biển kiểm soát 29B -035.97 (ký hiệu số 10) đỗ trên làn đường xe chạy, đầu xe hướng Bắc Ninh, đuôi xe hướng Bắc Giang. Trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 5,20m, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 4,80m.
- Cách trục bánh xe phía sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 29B- 035.97 khoảng cách 1,20m là bãi máu trên mặt đường (ký hiệu số 11), bãi máu có kích thước (1,5x1,0)m, tâm bãi máu cách mép đường bên phải 7,0m. (Bút lục: 24-28)
* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:
Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 29B - 035.97
Cánh cửa sườn xe bên phải bật rời khỏi xe; Kính chắn gió hông xe bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe, kích thước (1,80 x0,66)m. Hông xe bên phải bị tỳ nén, bẹp méo kim loại, kích thước (1,0x0,50)m. Đuôi nóc xe bị tỳ nén, bẹp méo, cong vênh, rách kim loại, hướng từ sau về trước, kích thước (1,40x1,30)m, tâm cách đất 2,25m. Kính chắn gió cửa hậu phía sau bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe, kích thước (0,65x0,60)m. Khung xe phía sau bên phải bị tỳ nén, cong vênh, hướng từ sau về trước. Cánh cửa hậu phía sau bên phải bị tỳ nén, bẹp méo, hướng từ sau về trước, mặt ngoài để lại vết mài sát, mòn kim loại, bám tạp chất màu trắng, màu đen, kích thước (1,1x0,80)m, tâm cách đất 1,1m. Đèn xi nhan phía sau bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe. Ba đờ sốc phía sau bị tỳ nén, bật rời khỏi xe. Giá đỡ ba đờ sốc phía sau bị tỳ nén, bẹp méo, hướng từ sau về trước, kích thước (1,40x0,25)m, tâm cách đất 0,50m. Kính chắn gió cánh cửa hậu phía sau bên trái bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe, kích thước (1,65x0,60)m. Cánh cửa hậu phía sau bên trái bị tỳ nén, bẹp méo, cong vênh, hướng từ sau về trước, mặt ngoài bị mài sát mòn sơn, rách kim loại, bám tạp chất màu đen, màu trắng, kích thước (0,90x0,80)m, tâm cách đất 1,1m. Biển số phía sau bị tỳ nén, cong vênh, hướng từ sau về trước, mặt ngoài mài sát mòn kim loại, bán tạp chất màu đen, màu trắng, kích thước (0,28 x 0,20)m, tâm cách đất 0,90m. Đèn xi nhan phía sau bên trái bị tỳ nén, nứt vỡ, hướng từ sau về trước, kích thước (0,30x0,18)m, tâm cách đất 1,05m. Khung xe phía sau bên trái bị tỳ nén, bẹp méo, cong vênh hướng từ sau về trước, bám dính tạp chất màu trắng, màu đen, màu hồng, kích thước (1,80x0,30)m, tâm cách đất 1,40m. Hông xe phía sau bên trái bị tỳ nén, bẹp méo, hướng từ sau về trước, mặt ngoài bị mài sát bong sơn rách kim loại, bám tạp chất màu trắng, màu đen, màu hồng, kích thước (1,0 x 0,90)m, tâm cách đất 1,30m. Kính chắn gió hông xe phía sau bên trái bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe, kích thước (1,65 x 0,77)m. Sườn xe phía sau bên trái bị tỳ nén, cong vênh, bẹp méo kim loại, kích thước (1,50 x 1,1)m. Toàn bộ ghế ngồi trong xe bị đẩy xô về phía trước rời khỏi vị trí ban đầu. Trong xe bám dính nhiều tạp chất màu hồng.
Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 98C - 075.33
Kính chắn gió trước bị tỳ nén, nứt vỡ khuyết, kích thước (2,1 x 0,90)m. Gương chiếu hậu bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe. Cần gương chiếu hậu bên phải bị tỳ nén, cong vênh, hướng từ trước về sau, kích thước (0,60 x 0,02)m, tâm cách đất 2,20m. Kính chắn gió cánh cửa xe bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, bật rời khỏi xe. Cánh cửa xe phía trước bên phải bị tỳ nén, cong vênh, kích thước (0,90 x 0,90)m, tâm cách đất 1,60m. Trán xe phía trước bị tỳ nén, cong vênh, nứt vỡ nhựa, mặt ngoài bám tạp chất màu trắng, màu đen, kích thước (2,0x0,70)m, tâm cách đất 1,50m. Cụm đèn pha phía trước bên phải bị tỳ nén, nứt vỡ, kích thước (0,57 x 0,30)m, tâm cách đất 1,15m. Biển số xe phía trước bị tỳ nén, cong vênh, hướng từ trước về sau, mặt ngoài mài sát mòn kim loại, bám tạp chất màu trắng, kích thước (0,46 x 0,11)m, tâm cách đất 0,90m. Đèn pha trước bên trái bị tỳ nén, nứt vỡ, kích thước(0,52x0,19)m, tâm cách đất 1,17m. Giá đỡ biển số xe phía trước bị tỳ nén, cong vênh, hướng từ trước về sau, mặt ngoài mài sát, nứt vỡ nhựa, bám tạp chất màu trắng, kích thước (1,2x0,20)m, tâm cách đất 0,90m. Ba đờ sốc trước bị tỳ nén, bẹp méo, cong vênh, hướng từ trước về sau, mặt ngoài mài sát bong sơn, mòn kim loại, kích thước (2,6x0,40)m, tâm cách đất 0,90m.
Tại bản Kết luận giám định số 778/KL-PC54 ngày 18/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
“Dấu vết chùn cong, biến dạng, nứt vỡ, trượt xước, mài sát sơn nhựa, kim loại, dính chất màu trắng ở phần đầu bên phải của xe ô tô 98C- 075.33 được hình thành do va chạm với dấu vết chùn cong, biến dạng, móp méo, rách, trượt xước, mài sát sơn nhựa, kim loại, dính chất màu trắng và hồng ở phần sau xe ô tô 29B - 035.97 tạo nên là phù hợp. Chiều hướng khi va chạm cùng chiều.
- Vị trí va chạm giữa xe ô tô 98C- 075.33 và xe ô tô 29B- 035.97 trên mặt đường tại khu vực dấu vết mảnh kính vỡ ký hiệu số 1, thuộc phần đường dành cho phương tiện chuyển động theo hướng Bắc Giang- Bắc Ninh. Không đủ cơ sở để xác định thuộc làn đường theo hướng Bắc Giang- Bắc Ninh.
- Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của các phương tiện khi xảy ra tai nạn và thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô 29B- 035.97 ở trạng thái đứng yên hay chuyển động.”
Tại bản Kết luận giám định số 4868/C09(P3) ngày 12/9/2018 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:
“- Không xác định được vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 98C - 075.33 với xe ô tô biển số 29B- 035.97 ở làn đường trong cùng bên phải hay ở giữa làn đường trong cùng bên phải và làn đường giữa theo chiều đường Bắc Giang- Bắc Ninh.
- Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 98C - 075.33 và xe ô tô biển số 29B - 035.97 khi xảy ra tai nạn.
- Không xác định được xe ô tô biển số 29B - 035.97 ở trạng thái dừng đỗ hay chuyển động khi xảy ra va chạm.”
Ngày 03/8/2018, Trung tâm kiểm định kỹ thuật phương tiện thiết bị giao thông cơ giới tỉnh Bắc Giang có Kết luận số 30, 31/TTKĐ kết luận:
Đối với xe ô tô 29B - 035.97: “Do động cơ không hoạt động nên không kết luận được hệ thống làm mát và hành trình côn có đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để phương tiện được phép tham gia giao thông.”;
Đối với xe ô tô 98C- 075.33: “Do động cơ không hoạt động nên không kết luận được hệ thống lái có đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để phương tiện được phép tham gia giao thông” .
Tại bản Kết luận giám định số 4837/C09-P6 ngày 27/9/2018 của Viện Khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận trong hộp đen, thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô biển kiểm soát: 29B-035.97 và xe ô tô biển kiểm soát: 98C-075.33, kết luận: Theo dữ liệu hiển thị trên máy báo lỗi chuyên dụng của hãng Mecedes xe ô tô biển kiểm soát 29B-035.97 có 11 (mười một) lỗi lưu trong động cơ, trong đó có 04 (bốn) lỗi hiển thị trên bảng báo lỗi của xe gồm: áp suất của bơm tiếp nhiên liệu, lỗi tín hiệu chân phanh ở vị trí số 2, túi khí vô lăng điện áp cao, tín hiệu công tắc chân phanh bị gián đoạn. Tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát: 98C-075.33 trước thời điểm xảy ra tại nạn có tốc độ khoảng từ 65 Km/h đến 67 Km/h. (Bút lục: 144-167)
Tại bản Kết luận giám định về pháp y số 3462/18/GĐPY ngày 28/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn K là do sốc mất máu cấp không hồi phục do vỡ gan, vỡ lách, vỡ thận trái do tai nạn giao thông.
Tại bản Kết luận giám định về pháp y số 3463/18/GĐPY ngày 29/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lò Văn Tlà do đa chấn thương do tai nạn giao thông.
Chị Hoàng Thị B điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang từ ngày 27/5/2018 đến ngày 11/6/2018 với thương tích: gãy cung trước xương sườn 2 phải, xương sườn 9 đường nách giữa phải đã can xương; chấn thương gan độ IV; gãy gai ngang bên phải của L4, L5.
Chị Hoàng Thị T điều trị thương tích tại Bệnh viện sản nhi tỉnh Bắc Ninh từ ngày 27/5/2018 đến ngày 05/6/2018 với thương tích: xảy thai.
Chị Đào Thị T được sơ cứu vết thương tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, sau đó chuyển đến Bệnh Viện hữu nghị Việt- Đức điều trị thương tích từ ngày 27/5/2018 đến ngày 01/6/2018 với thương tích: chấn thương cột sống: vỡ D12, trật D12-L1.
Anh Ngụy Thành Công điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh từ ngày 27/5/2018, đến ngày 30/5/2018 chuyển đến Bệnh viện trung ương quân đội 108 điều trị tiếp đến ngày 09/6/2018 thì ra viện với thương tích: gãy xương sườn 4,6,7,8 đường nách giữa.
Anh Nguyễn Như L, cháu Đỗ Viết K, anh Vũ Văn H, anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Đức Q bị thương tích nhẹ và không điều trị vết thương ở bất kể cơ sở y tế nào.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 8527/18/TgT ngày 06/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với chị Hoàng Thị B là: 25% .
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 8505/18/TgT ngày 13/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với chị Hoàng Thị T là: 10%.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 8561B/18/TgT ngày 16/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với anh Nguyễn Thành C là: 8%.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 8562/18/TgT ngày 26/11/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với chị Đào Thị T là: 43%.
Ngày 25/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Việt Yên kết luận giá trị phần thiệt hại hư hỏng đối với xe ô tô biển kiểm soát 98C-075.33 là 34.900.000đồng (ba tư triệu chín trăm nghìn đồng); đối với xe ô tô biển kiểm soát 29B- 035.97 là 235.400.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 15/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 91/2019/HS-ST ngày 01/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589, 590, 591 và Điều 601 Bộ luật dân sự:
Buộc công ty TNHH thép lưới HL phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn X bà Đào Thị L số tiền 100.400.000đ (một trăm triệu bốn trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền 50.000.000đ anh Trần Công Tâm đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000683, ngày 31/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự đối với những người bị hại khác, xử lý vật chứng, quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/11/2019, ông Nguyễn Văn X là người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Nguyễn Văn K (đã chết) kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Xem xét đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Q là lái xe khách biển kiểm soát 29B- 035.97; đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T; đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại cho gia đình ông.
Tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Văn X rút kháng cáo không đề nghị Toà phúc thẩm xét xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn T và rút kháng cáo không đề nghị xem xét đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Q là lái xe khách biển kiểm soát 29B- 035.97.
Ông Nguyễn Văn X giữ nguyên kháng cáo đối với nội dung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tăng thêm mức bồi thường tổn thất về tinh thần cho ông và bà Đào Thị L ( Là vợ ông) là đại diện hợp pháp của người bị hại 20 tháng lương cơ bản là 29.800.000đồng.
Bị cáo Trần Văn T và Công ty Trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL do ông Võ Thanh T - Phó Giám đốc công ty đại diện nhất trí đối với kháng cáo của ông Xuân và đồng ý bồi thường thêm 20 tháng lương cơ bản x 1.490.000đồng/ 1 tháng = 29.800.000đồng cho ông Xuân bà Lan.
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi xem xét các vấn đề kháng cáo mà người đại diện hợp pháp của người bị hại nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn X, sửa bản án sơ thẩm: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn X đối với các nội dung đề nghị xét xử tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn T và xem xét đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Q là lái xe khách biển kiểm soát 29B- 035.97. Chấp nhận thoả thuận Công ty Trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL bồi thường tổn thất về tinh thần thêm cho ông Nguyễn Văn X và bà Đào Thị L 20 tháng lương cơ bản = 29.800.000đồng và số tiền còn phải bồi thường theo án sơ thẩm tuyên là 50.400.000đồng. Tổng cộng là 80.200.000đồng.
Án phí: Ông Nguyễn Văn X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ông Nguyễn Văn X là người đại diện hợp pháp của người bị hại phát biểu tranh luận: Nhất trí như quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm, không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo Trần Văn T phát biểu tranh luận: Nhất trí như quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm, không có ý kiến tranh luận gì.
Đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL phát biểu tranh luận: Nhất trí như quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm, không có ý kiến tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức Q phát biểu tranh luận: Không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo Trần Văn T nói lời sau cùng: Không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn X là người đại diện hợp pháp của người bị hại đã được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn X theo trình tự phúc thẩm.
Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn X thấy: Tại phiên toà phúc thẩm ông Xuân rút kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn T và rút kháng cáo đề nghị xem xét đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Q là lái xe khách biển kiểm soát 29B- 035.97. Hội đồng xét xử thấy tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Văn X rút kháng cáo đối với các nội dung trên. Xét thấy việc rút kháng cáo của ông Nguyễn Văn X là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 3 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các nội dung kháng cáo này của ông Nguyễn Văn X.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn X đối với nội dung đề nghị tăng mức bồi thường tổn thất về tinh thần thêm cho ông Nguyễn Văn X và bà Đào Thị L 20 tháng lương cơ bản thì thấy: Tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Văn X và bị cáo Trần Văn T cùng với đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL do ông Võ Thanh T - Phó Giám đốc công ty đại diện thoả thuận: Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL nhất trí bồi thường thêm 20 tháng lương cơ bản x 1.490.000đồng/ 1 tháng = 29.800.000đồng cho ông Nguyễn Văn X và bà ĐàoThị Lan. Xét thấy đây là sự tự nguyện thoả thuận giữa các bên không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn X.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 3 Điều 342; điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn X kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Văn T và kháng cáo đề nghị xem xét đối với hành vi của anh Nguyễn Đức Q là lái xe khách biển kiểm soát 29B-035.97.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn X về tăng mức bồi thường về tổn thất thinh thần;
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, 591 và Điều 601 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự thoả thuận Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL bồi thường thêm 20 tháng lương cơ bản x 1.490.000đồng/1tháng = 29.800.000đồng cho ông Nguyễn Văn X và bà ĐàoThị Lan. Và bồi thường số tiền theo bản án sơ thẩm tuyên là 100.400.000đ (một trăm triệu bốn trăm nghìn đồng). Công ty trách nhiệm hữu hạn thép lưới HL phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn X và bà ĐàoThị Lan tổng cộng là 130.200.000đồng (Một trăm ba mươi triệu, hai trăn nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền 50.000.000đ anh Trần Công Tâm đã nộp theo lai thu tiền số AA/2015/0000683, ngày 31/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[2]. Án phí hình sự phúc thẩm: Miễn tiền án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn X.
[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |