vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cáp Thị N. Bà Cáp Thị N được ly hôn với ông Trần N.

Về con chung: Bà N, ông N có 02 con chung là Trần Thị Phước H, sinh ngày 18/8/1996 và Trần Đ, sinh ngày 10/6/1990. Các con đều đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cáp Thị N xin ly hôn với Trần N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cáp Thị N. Bà Cáp Thị N được ly hôn với ông Trần N.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật; Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày 28-02-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Công Trường.

2. Bà Phạm Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Liên- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 497/2019/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về “Yêu cầu ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cáp Thị N, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số nhà 2145 quốc lộ 51, quán cơm chay Thuận Duyên, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có mặt).

Bị đơn: Ông Trần N - Pháp Danh T ĐT , sinh năm 1986;

Địa chỉ: Phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Trần N quen nhau và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1990, ông bà đăng ký kết hôn tại UBND xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngày 26 tháng 12 năm 2002.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và cách sống dẫn đến vợ chồng không hiểu nhau, không cảm thông cho nhau, thường xuyên cãi vả, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Bà và ông N đã tìm nhiều cách để khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Bà N và ông N đã tự ý chấm dứt cuộc sống chung từ năm 2016 đến nay. Hiện nay ông N đang tu tại chùa thuộc phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà N, ông N có 02 người con chung là Trần Thị Phước H, sinh ngày 18/8/1996 và Trần Đ, sinh ngày 10/6/1990. Các con đều đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông N vẫn không đến Tòa án làm việc mà không có lý do, vì thế Tòa án không thể tổ chức hòa giải để thuyết phục động viên các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm để trở về đoàn tụ với nhau. Sau nhiều lần vắng mặt, đại diện Tòa án cũng đã phối hợp với đại diện địa phương đến nơi cư trú của ông Trần N để làm rõ tình trạng hôn nhân của vợ chồng của ông N và tìm hiểu nguyên nhân vắng mặt của ông N nhưng không gặp được ông N.

Ngày 25/12/2019, ông N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà N, ông N có 02 người con chung là Trần Thị Phước H, sinh ngày 18/8/1996 và Trần Đ, sinh ngày 10/6/1990. Các con đều đã đủ tuổi trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Buộc bà N phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn hiện đang cư trú tại thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn ông Trần N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

2 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1 Về quan hệ hôn nhân

Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, bà Cáp Thị N và ông Trần N tiến tới hôn nhân chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà N và ông N đăng ký kết hôn tại UBND xã Bàu Lâm, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giấy chứng nhận kết hôn số 132 ngày 26 tháng 12 năm 2020. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông là hôn nhân hợp pháp.

Hiện nay giữa bà N và ông N không còn tình cảm với nhau. Cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do hai vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng đối với nhau, bất đồng về tính cách, quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cải vã và xô xát nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Bà N và ông N đã tự sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án đã nhiều lần tổ chức hòa giải để vợ chồng bà N và ông N đoàn tụ cùng nhau chăm sóc con cái nhưng ông N đều vắng mặt không có lý do và ông N đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, điều này chứng tỏ ông N không có thiện chí hòa giải và không mong muốn tiếp tục chung sống với bà N nữa.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà N, ông N đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà N với ông N.

2.2 Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N, ông N có 02 con chung là Trần Thị Phước H, sinh ngày 18/8/1996 và Trần Đ, sinh ngày 10/6/1990. Các con đều đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết

3 Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà Cáp Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cáp Thị N. Bà Cáp Thị N được ly hôn với ông Trần N.

2.Về con chung: Bà N, ông N có 02 con chung là Trần Thị Phước H, sinh ngày 18/8/1996 và Trần Đ, sinh ngày 10/6/1990. Các con đều đã trưởng thành nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

4. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Cáp Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002516 ngày 02/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.Như vậy bà N đã nộp xong án phí .

5. Về quyền kháng cáo:Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Cỡ chữ