- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm MInh Sang - Đặng THị Bạch - HNGĐ"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2020 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM – TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thị Thanh Loan
Ông Phan Minh Đức
- Thư ký phiên tòa: bà Thạch Thị Diễm Trinh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.
Trong ngày 27 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 48/2020/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 24/3/2020, Thông báo về việc dời thời gian xét xử số 27/TB-TA ngày 31/3/2020 và Thông báo về việc mở phiên tòa số 31/TB-TA ngày 17/4/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm S, sinh năm 1976 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
Bị đơn: Bà Đặng B, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm S trình bày:
Vào năm 1994 thì ông và bà B chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng ông có 02 con chung là Phạm T, sinh năm 1994 và Phạm S, sinh năm 2000. Con tên T đã có gia đình sống riêng tư, còn con tên S thì đang sống với bà B. Quá trình chung sống vợ chồng ông không có tài sản chung cũng như không có nợ chung. Vợ chồng ông cũng không có nợ chung ai.
Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2015 thì vợ chồng ông bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn thương yêu, tin tưởng lẫn nhau từ đó hai người không có tiếng nói chung. Vợ chồng ông bắt đầu sống ly thân kể năm 2015 cho đến nay thì ông nhận thấy không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn lại được. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ông không có ai biết. Ông S yêu cầu ly hôn với bà B. Còn những vẫn đề khác như tài sản chung, nợ chung, con chung thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Đặng B trình bày tại biên bản hòa giải ngày 03/3/2020:
Bà và ông Phạm S chung sống với nhau vào năm 1994 nhưng vợ chồng bà không có đăng ký kết hôn. Còn về con chung, tài sản chung và nợ chung thì bà thống nhất lời trình bày của ông S. Trong cuộc sống hằng ngày thì vợ chồng bà luôn có những bất đồng về quan điểm sống, thường hay cự cải, không có tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên vợ chồng bà đã ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng nhưng qua thời gian ly thân nhận thấy không thể giải quyết mâu thuẫn với nhau và không thể hàn gắn cuộc sống hôn nhân nên bà cũng đồng ý ly hôn với ông S. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà cũng không ai biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn bà B vắng mặt, nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bà B.
Về quan hệ hôn nhân: ông Phạm S và bà Đặng B sống chung với nhau vào năm 1994, trên cơ sở tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn nên không được pháp luật công nhận.
Trong khoảng thời gian sống chung thì ông bà cũng đã có hai con chung. Lẽ ra, trong quá trình sống chung ông bà lo chí thú làm ăn để xây dựng gia đình đầm ấm, hạnh phúc, nhưng ngược lại trong cuộc sống chung giữa ông bà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Theo ông S trình bày nguyên nhân là do mâu thuẫn gia đình ngày càng nhiều, thường xuyên cự cãi, cuộc sống vợ chồng không còn tin tưởng nhau, không còn thương yêu lẫn nhau, cuộc sống không hòa hợp, không hạnh phúc, không thể chung sống với nhau như vợ chồng được nữa, nên ông và bà B sống ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Vì vậy, ông yêu cầu không công nhận vợ chồng với bà B. Còn bà B thì trình bày, quá trình sống chung bà và ông S cũng thường xuyên mâu thuẫn, cự cải với nhau, nên ông bà sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay; ông S yêu cầu không công nhận vợ chồng, bà cũng đồng ý.
Thấy rằng, từ những vấn đề phát sinh trong đời sống hằng ngày ông bà đã không có sự thông cảm cho nhau, nên đã làm cho gia đình xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, mâu thuẫn ngày càng gay gắt hơn, đời sống chung không còn hòa hợp với nhau nữa, nên ông bà đã sống ly thân với nhau. Mặt khác, Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải xem có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung hay không; bên cạnh đó Tòa án cũng động viên ông bà về sống chung nhằm hàn gắn lại tình cảm gia đình, nhưng hai người vẫn tiếp tục sống ly thân với nhau mà không về đoàn tụ lại với nhau. Xét thấy, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ vào Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là chấp nhận yêu cầu của ông S và tuyên bố không công nhận quan hệ sống chung giữa ông S và bà B là vợ chồng.
Con chung: Quá trình sống chung, ông bà có hai con chung đều đã trưởng thành, ông S trình bày các con chung của ông và bà B đủ khả năng lao động, tự nuôi sống bản thân và không ai có yêu cầu gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Tài sản chung và nợ chung: ông bà không yêu cầu xem xét, giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết về án phí và lệ phí Tòa án. Ông Phạm S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình; bà Đặng B không phải chịu tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận ông Phạm S và bà Đặng B là vợ chồng.
[2] Về con chung: Các con của ông S và bà B đều trưởng thành, không ai có yêu cầu gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[3] Về tài n chung à n chung: ông S và bà B không yêu cầu xem xét, giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí ơ thẩm: Ông Phạm S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003389 ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm. Như vậy, ông S đã thực hiện xong tiền án phí.
Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Ngã Năm; - CCTHADS thị xã Ngã Năm; - Các đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Lưu VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Vàng |