vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Đức H đối với bà Dương Thị C, cho ông Nguyễn Đức H được ly hôn bà Dương Thị C.

[2]. Về con chung : Con chung đã trưởng thành. [3]. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Đức H đối với bà Dương Thị C, cho ông Nguyễn Đức H được ly hôn bà Dương Thị C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 26/03/2020
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG - THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Quý

Bà Trịnh Thị Kim Liên

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên:

Ông Nguyễn Đức Minh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26/3/2020 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 185/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1965/ có mặt.

Nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Bà Dương Thị C, sinh năm 1971/ vắng mặt lần thứ hai.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố P, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Đức H trình bày:

Ông và bà Dương Thị C kết hôn năm 1989, đăng ký kết hôn tại xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên (nay là phường Lương Sơn, thành phố Sông Công), tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì lớn, đến năm 1999 bà C bỏ đi biệt tích không nói cho ông H và các con biết. Ông H và các con đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không biết tin tức gì của bà C. Tháng 4 năm 2019 ông H có làm đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với bà Dương Thị C. Tại Quyết định số 03/2019/QĐST-VDS ngày 18 tháng 10 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Sông Công đã tuyên bố một người mất tích đối với bà Dương Thị C.

Từ khi có Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án bà C vẫn không có tin tức ở đâu, làm gì. Nay ông thấy không thể tiếp tục chờ đợi bà C quay về, tình cảm vợ chồng không còn, ông xin được ly hôn với bà Dương Thị C để ổn định cuộc sống tuổi xế chiều.

- Về con chung: Ông H và bà C có hai con chung là Nguyễn Đức Thảo, sinh năm 1990; Nguyễn Đức Hưng, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành và có cuộc sống riêng.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Tại Quyết định số 03/2019/QĐST-VDS ngày 18 tháng 10 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Sông Công đã tuyên bố một người mất tích đối với bà Dương Thị C. Qua xác minh, đến nay bà C không có mặt tại địa phương và không biết đi đâu, làm gì. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của bà C theo quy định của pháp luật và đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Đức H.

Buộc đương sự phải chịu án phí LHST theo quy định của pháp luật và tuyên các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc Ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Do bị đơn vắng mặt và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 207, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành giải quyết vụ án.

. Về nội dung: Ông Nguyễn Đức H và bà Dương Thị C đăng ký kết hôn năm 1989 tại UBND xã Lương Sơn, thành phố Thái Nguyên (nay là phường Lương Sơn, thành phố Sông Công), tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Về nguyên nhân chính dẫn đến ông H có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Dương Thị C là do bà C đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1999 đến nay không biết đi đâu và không liên lạc gì với chồng con. Nay ông H xác định không thể tiếp tục chờ đợi bà C quay về, tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn bà C để ổn định cuộc sống tuổi xế chiều.

Hội đồng xét xử xét thấy ông H và bà C đã không còn chung sống với nhau từ khi bà C bỏ đi khỏi địa phương năm 1999, hiện tại ông H không biết bà C đang ở đâu và làm gì. Tại Quyết định số 03/2019//QĐST-VDS ngày 18 tháng 10 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Sông Công đã tuyên bố một người mất tích đối với bà Dương Thị C. Nhận thấy cuộc sống chung giữa ông H và bà C không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H đối với bà C là hoàn toàn phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật tại Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Ông H và bà C có hai con chung là Nguyễn Đức Thảo, sinh năm 1990; Nguyễn Đức Hưng, sinh năm 1994. Hiện con chung đã trưởng thành và có cuộc sống riêng.

. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về nợ chung: Không có.

. Về án phí: Ông Nguyễn Đức H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, Điều 207, 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Đức H đối với bà Dương Thị C, cho ông Nguyễn Đức H được ly hôn bà Dương Thị C.

[2]. Về con chung : Con chung đã trưởng thành.

[3]. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về nợ chung: Không có.

[5]. Án phí: Ông Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, biên lai thu số 0007830 ngày 03/12/2019.

[6]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn là ông Nguyễn Đức H biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là bà Dương Thị C vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ