- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa anh Y và anh Q"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Y ly hôn anh Nguyễn Hồ Nhật Q.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST Ngày 11-02-2020 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa.
Ông Lê Tịnh Thới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 11/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 590/2019/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐST- HNGĐ ngày 21/01/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 1A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồ Nhật Q, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 1, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/9/2019, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Nguyễn Hồng Y trình bày: Vào năm 2014, chị và anh Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau, anh Q ham chơi, bài bạc, cá độ đá banh, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Anh chị không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh Q, do đó yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Quỳnh Th, sinh ngày 02/9/2015. Hiện nay cháu Thư đang sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình làm việc bị đơn anh Nguyễn Hồ Nhật Q trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Y về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.
Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, anh Q cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bản thân anh không toàn tâm lo cho gia đình, anh đi làm ăn xa nên thời gian vợ chồng ở gần nhau không nhiều, do đó vợ anh buồn chán và có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Anh cũng không còn tình cảm với chị Y nhưng vì anh là người theo đạo Thiên chúa nên anh không đồng ý ly hôn .
Về con chung: Khi ly hôn, anh đồng ý để chị Y nuôi cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Th, sinh ngày 02/9/2015 đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh không cấp dưỡng nuôi con cho chị Y.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Hồng Y có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Hồ Nhật Q, do đó xác định chị Y là nguyên đơn, anh Q là bị đơn.
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Hồng Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Hồ Nhật Q đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị Y, anh Q là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Y và anh Nguyễn Hồ Nhật Q tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Hưng, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị Y cho rằng, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau, anh Q ham chơi, bài bạc, cá độ đá banh, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Anh Q cũng thừa nhận là do bản thân anh không tốt, không quan tâm đến vợ con, anh không còn tình cảm với chị Y nhưng không đồng ý ly hôn vì anh là người theo đạo Thiên chúa.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; có nghĩa vụ sống chung với nhau. Như vậy, chị Y và anh Q đã không thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Hồng Y và anh Nguyễn Hồ Nhật Q thỏa thuận giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Th, sinh ngày 02/9/2015 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu Thư đang ở với chị Y và sự thỏa thuận của anh chị là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên ghi nhận. Chị Y không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Y, anh Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết
Về nợ chung: Chị Y, anh Q trình bày không có nên không xem xét giải quyết
Về án phí: Chị Nguyễn Hồng Y phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 131, 19, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng Y ly hôn anh Nguyễn Hồ Nhật Q.
2. Về con chung:
- Giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh Th, sinh ngày 02/9/2015 cho chị Nguyễn Hồng Y trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hồ Nhật Q.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung được pháp luật bảo vệ.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003299 ngày 04/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.
Chị Nguyễn Hồng Y, anh Nguyễn Hồ Nhật Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND H.Xuân Lộc; - CCTHADS H.Xuân Lộc; - Các đương sự; - UBND xã nơi kết hôn; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Huệ |