vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Bảo N. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cho chị Nguyễn Thị V với anh Nguyễn Bảo N."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 3 - 2020.
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Trung Chiến.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Cúc

Ông Huỳnh Bình

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Quyết Tâm- Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 568/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986; Trú tại: ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Bảo N, sinh năm 1985; Trú Tại: ấp 1, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

( Chị V có mặt, anh N có đơn xin vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Chị và anh Nguyễn Bảo N tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 13/2012 ngày 19/3/2012. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau khiến gia đình mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị và anh N đã ly thân từ tháng 12/2018 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị xin được ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và cháu Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015. Trước đây chị đề nghị xin được nuôi cháu Cát T. Nay tại Tòa chị xin thay đổi ý kiến, đồng ý giao hai con chung cho anh N nuôi dưỡng, tạm thời chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn bảo N trình bày ý kiến:

Anh và chị Nguyễn Thị V tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Chị V trình bày về mâu thuẫn gia đình, anh thừa nhận mâu thuẫn là đúng. Vì trước đây anh có sử dụng ma túy, nhưng hiện nay anh đã không sử dụng ma túy nữa. Vì anh còn thương vợ con nên anh không muốn ly hôn với chị V.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và cháu Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Bảo N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và cháu Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015 cho anh N nuôi dưỡng, tạm thời chị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung các đương sự đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự:

1.1. Caên cöù Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

1.2. Anh Nguyễn Bảo N có đơn đề nghị xin được vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 xét xử vắng mặt anh N.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Bảo N là hợp pháp vì hai bên tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định, nên được pháp luật bảo vệ.

2.2. Yêu cầu của Chị V xin được ly hôn với anh N. Vì chị V cho rằng cuộc sống của vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị và anh N đã ly thân với nhau từ tháng 12/2018, anh N thừa nhận mâu thuẫn là do anh N sử dụng ma túy, nhưng đến nay anh N cũng không có cách gì hay ý kiến gì để vợ chồng đoàn tụ. Nay chị V có đơn và kiên quyết xin ly hôn với anh N. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh, chị là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ được, nên cho chị V được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định của pháp luật.

2.3. Về con chung: Chị V đồng ý giao cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015 cho anh N nuôi dưỡng.

Tại hồ sơ anh N có ý kiến đề nghị cho anh được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

Nhận thấy việc nuôi con, chăm sóc giáo dục con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ. Nay anh N đề nghị nuôi cả hai con chung, được chị V đồng ý. Xét thấy việc thỏa thuận nuôi con và chăm sóc của anh. chị là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận. vì vậy giao cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015 cho anh N chăm sóc nôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con tạm thời chị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị V phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; 35; 39; 147, khoản 1, Điều 227; 269; 271; 273; 278; 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Bảo N.

2. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Phát L, sinh ngày 18/01/2013 và cháu Nguyễn Cát T, sinh ngày 16/6/2015 cho anh Nguyễn Bảo N trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Tạm thời chị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Chị Nguyễn Thị V có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở chị V thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002275 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị V đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị Nguyễn Thị V có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Riêng anh Nguyễn Bảo N có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án này theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ