- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thào Seo P- Giàng Thị X"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST Ngày 27-3-2020 “V/v Tranh chấp về ly hôn và nuôi con ” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và ông Lý Văn Hòe
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng – Thẩm tra viên
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Nhẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2019/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2019 về: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Thào Seo P, sinh năm 1995 - có mặt
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
2. Bị đơn: Chị Giàng Thị X, sinh năm 1997 – vắng mặt
Địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Thào Seo P trình bày:
Anh và chị X chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ năm 2015. Trong cuộc sống, giữa hai người thường xuyên mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ hay bỏ nhà đi rồi lại về. Cuối năm 2019 hai vợ chồng đã sống ly thân, thi thoảng vợ có về nhà thăm con rồi lại đi. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị X.
Về con chung: Thời gian sống chung có 02 con chung là cháu Thào Văn M, sinh ngày 29/9/2013 và cháu Thào Thị Ngọc T, sinh ngày 05/5/2016, chị X bỏ nhà đi không quan tâm đến con, các con hiện đang ở cùng anh nên anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Anh P khai không có và cam kết không có nợ chung nên không yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị X không đến làm việc mặc dù Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, niêm yết công khai. Do vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Anh P được ly hôn với chị X; giao 02 con chung để Anh P nuôi; về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn chị Giàng Thị X, cư trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
. Nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Anh P và chị X chung sống với nhau, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ. Quá trình sống chung vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, chị X nhiều lần bỏ nhà đi. Hiện tại, hai người đã sống ly thân và không còn tình cảm. Mặc dù chị X vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết nhưng xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh P và chị X đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P đối với chị X.
. Về con chung: có 02 con chung là cháu Thào Văn M, sinh ngày 29/9/2013 và cháu Thào Thị Ngọc T, sinh ngày 05/5/2016, các cháu hiện đang ở cùng anh P và được anh P chăm sóc nên cần tiếp tục giao con chung cho anh P nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
. Về tài sản chung: Nguyên đơn khai không có và cam đoan không có nợ chung, không yêu cầu nên không đề cập.
. Về án phí: Anh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thào Seo P
Về hôn nhân: Anh Thào Seo P được ly hôn với chị Giàng Thị X.
Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Thào Văn M, sinh ngày 29/9/2013 và cháu Thào Thị Ngọc T, sinh ngày 05/5/2016 cho Anh P trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Anh P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000472 ngày 12/12/202019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đ; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Lê Thị Hồng Nhung THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |