vanban.org

Bản án 03/2020/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:

10 Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết vào ngày 19/6/2013 giữa đồng nguyên đơn là 10 hộ gia đình nêu trên với Công ty CPCPTHMA vô hiệu. Phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty CPCPTHMA với Ngân hàng TMCPHHVN vô hiệu. Phần vô hiệu là phần Hợp đồng liên quan tới… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "NĐ: 10 hộ dân - BĐ: Công ty CPCPTHMA"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 109 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/DS-ST
Ngày 11/8 /2020
V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn
bằng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Vân.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lƣờng Văn Hƣởng

2. Bà: Lƣu Thị Nguyên

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 11/08/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự theo quyết định nhập vụ án dân sự số 02/2020/QĐ-CA, ngày 24 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXX-ST ngày 06/7/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST-DS ngày 24/7/2020 giữa các đương sự:

1. Đồng nguyên đơn: 10 hộ gia đình sinh sống tại bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, cụ thể:

1.1. Hộ gia đình ông Lò Văn B, sinh năm 1973. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

Người được Hộ gia đình ông Lò Văn B ủy quyền: Ông Lò Văn B, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên

1.2. Hộ gia đình ông Quàng Văn C, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

Người được Hộ gia đình ông Quàng Văn C ủy quyền: Ông Quàng Văn C, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên

1.3. Hộ gia đình ông Lò Văn C1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Lò Văn C1 ủy quyền: Ông Lò Văn C1, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.;

1.4. Hộ gia đình ông Lò Hoài V, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Lò Hoài V ủy quyền: Ông Lò Hoài V, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.5. Hộ gia đình ông Lò Văn C2, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Lò Văn C2 ủy quyền: Ông Lò Văn C2, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.6. Hộ gia đình ông Lường Văn A, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Lường Văn A ủy quyền: Ông Lường Văn A, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.7. Hộ gia đình ông Quàng Văn D, sinh năm 1982. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Quàng Văn D ủy quyền: Ông Quàng Văn D, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.8. Hộ gia đình ông Lò Văn B1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện B1.

Người được Hộ gia đình ông Lò Văn B1 ủy quyền: Ông Lò Văn B1, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.9. Hộ gia đình ông Quàng Văn C3, sinh năm 1959. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Quàng Văn C3 ủy quyền: Ông Quàng Văn C3, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

1.10. Hộ gia đình ông Quàng Văn C4, sinh năm 1966. Địa chỉ: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được Hộ gia đình ông Quàng Văn C4 ủy quyền: Ông Quàng Văn C4, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên;

(Đồng nguyên đơn sau đây gọi tắt là 10 hộ gia đình)

Người được ủy quyền và là Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn: Bà Trần Thị S – Trợ giúp viên pháp lý.

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên.

(Có mặt).

2. Bị đơn: Công ty CPCPTHMA.

Trụ sở: Tổ dân phố X, thị trấn M, huyện M, Điện Biên.

Người đại diện theo pháp luật cho Công ty:

Ông Nguyễn Hữu D1 - Chức danh: Giám đốc; sinh năm 1956.

CMND: Y, do Công an thành phố Hà Nội cấp ngày 24/5/2010.

Hộ khẩu thường trú tại: SN Y, phố H, Phường Q, quận B, TP. Hà Nội. (Vắng mặt không lý do).

3. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên Trụ sở: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn Đ – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.

Người được ông Vũ Văn Đ ủy quyền: Ông Bùi Như V1 (Theo Giấy ủy quyền ghi ngày 13/5/2020).

Chức vụ: Chánh văn phòng HĐND & UBND huyện T, Điện Biên.

Người được ông Vũ Văn Đ ủy quyền: Ông Nguyễn Văn B2 (Theo Giấy ủy quyền ghi ngày 17/7/2020).

Chức vụ: Phó Chánh văn phòng HĐND & UBND huyện T, Điện Biên.

Nơi công tác: Văn phòng HĐND - UBND huyện T, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt).

3.2 Ngân hàng TMCPHHVN.

Trụ sở: T, phường C, quận H, TP Hà Nội. Địa chỉ giao dịch: Số U, phường L, quận Đ, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Bửu Q – Tổng giám đốc Ngân hàng TMCPHHVN.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H – Giám đốc (Theo ủy quyền số 188/2011/QĐ-HĐQT, ngày 16 tháng 03 năm 2011 của chủ tịch HĐQT).

(Vắng mặt không lý do).

3.3 Công ty CPMĐB

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công N – Tổng giám đốc.

Trụ sở: Số nhà P, tổ dân phố I, Phường T, TP. Đ, Điện Biên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lò Thị T, sinh năm 1984.

Chức vụ: Phó chủ nhiệm dự án tại T.

Nơi công tác: Công ty CPMĐB.

(Có mặt).

3.4 Trung tâm kTTNMT (Thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Điện Biên) – Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Việt X – Giám đốc. Địa chỉ: Tổ dân phố E, Phường N, TP Đ, tỉnh Điện Biên.

Người đại diện theo ủy quyền của Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên: Ông Phạm Xuân H1 – Phó Giám đốc Trung tâm.

(Vắng mặt).

3.5 Trung tâm quản lý đất đai (Thuộc UBND huyện T).

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B3 – Phó Giám đốc phụ trách. Địa chỉ: Khối T, thị trấn T, huyện T, Điện Biên.

Người đại diện theo ủy quyền của Trung tâm quản lý đất đai:

Ông Nguyễn Quốc H2 – Viên chức Trung tâm quản lý đất đai huyện T, Điện Biên (Theo Giấy ủy quyền ghi ngày 26/6/2020).

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo 10 đơn khởi kiện của đại diện 10 hộ gia đình ghi ngày 31/01/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án: Người được ủy quyền và là Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn (10 hộ gia đình): Bà Trần Thị S trình bày:

Theo sự vận động và chủ trương của huyện T về mở rộng trồng và chăm sóc cây cà phê để xóa đói, giảm ngh o cho nhân dân. 10 hộ gia đình nêu trên mong muốn được trồng cây cà phê, nhưng không có điều kiện về vốn, k thuật để trồng và chăm sóc. Do vậy, để có điều kiện hơn, huyện chủ trương vận động các hộ dân kết hợp với Công ty CPCPTHMA bằng hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty. Công ty cam kết với 10 hộ gia đình, khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty thì s trở thành cổ đông của Công ty, được trả tiền công cho việc nhận trồng và chăm sóc cây cà phê, đồng thời được chia cổ tức hàng năm theo diện tích đất góp. Sau này khi vườn cây đi vào thu hoạch mà 10 hộ gia đình có nhu cầu lấy lại vườn cây thì Công ty s chuyển nhượng lại vườn cây cho 10 hộ gia đình. Khi góp quyền sử dụng đất vào Công ty, mỗi hộ gia đình nêu trên được hỗ trợ 3.000.000đ (ba triệu đồng)/1ha.

Chính vì vậy, 10 hộ gia đình đã mang quyền sử dụng đất của gia đình họ đi góp vốn vào Công ty CPCPTHMA.

Nhưng vào thời điểm đó, 10 hộ gia đình chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Công ty đã cùng với huyện tạo điều kiện cho 10 hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 19 tháng 6 năm 2013, 10 hộ gia đình được Công ty gặp và yêu cầu ký hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với Công ty CPCPTHMA và lập giấy ủy quyền cho Công ty mang diện tích đất của 10 hộ gia đình đi vay vốn tại ngân hàng. 10 hộ gia đình nêu trên đã không hiểu gì nhưng Công ty bảo họ ký thì họ ký. Việc ký hợp đồng góp vốn và giấy ủy quyền không thể hiện ý chí của tất cả các thành viên trong 10 hộ gia đình.

Năm 2013, Công ty CPCPTHMA tiến hành trồng cà phê trên phần diện tích đất của 10 hộ gia đình được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dùng vào mục đích trồng cây lâu năm (cà phê). Từ năm 2014, Công ty không tiến hành chăm sóc cho phần diện tích trồng cà phê này, 10 hộ gia đình đã tiến hành tự chăm sóc nhưng không có điều kiện để mua phân bón nên diện tích cây cà phê bị chết nhiều, không phát triển. Cũng trong thời gian đó, Công ty làm ăn thua lỗ, không thực hiện đúng cam kết với 10 hộ gia đình. Đến nay cây cà phê đã chết hết, giá trị cây cà phê không còn. Vì vậy, nguyện vọng của 10 hộ gia đình là lấy lại đất từ Công ty CPCPTHMA để có đất canh tác phát triển kinh tế gia đình. Cuối năm 2015, 10 hộ gia đình được UBND xã Q thông báo về việc Công ty CPCPTHMA có gửi Công văn số 26/2015/CV-THMA ngày 19/11/2015 về việc bàn giao vườn cà phê, lúc này cây cà phê của 10 hộ gia đình đều đã chết hết. Năm 2018, 10 hộ gia đình đã phối hợp với Công ty Maccadamia tỉnh Điện Biên để trồng cây macca. Vì vậy, 10 hộ gia đình đề nghị trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên tư vấn về vấn đề này.

Nay bà Trần Thị S với tư cách là Người được ủy quyền và là Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn (10 hộ gia đình) yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng:

1. Căn cứ vào quy định tại khoản 2, điều 146, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ, thì việc lập Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất ký giữa 10 hộ gia đình và Công ty CPCPTHMA ngày ngày 19 tháng 6 năm 2013 là trái pháp luật, không thể hiện ý chí của tất cả thành viên trong 10 hộ gia đình, chủ thể ký hợp đồng và chủ thể ký giấy ủy quyền không có đủ quyền để ký. Căn cứ vào điều 122, 127, 128 Bộ luật dân sự năm 2005 thì 10 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với 10 hộ gia đình nêu trên là vô hiệu.

Do đó, bà S yêu cầu Tòa án tuyên 10 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất lập ngày ngày 19 tháng 6 năm 2013 giữa 10 hộ gia đình và Công ty CPCPTHMA vô hiệu.

2. Căn cứ quy định tại điều 131 Luật đất đai năm 2003; điều 155 Nghị định 181/2004/NĐ-CP và điều 29 của Luật Doanh nghiệp thì khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào Công ty CPCPTHMA, công ty chưa thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn và chuyển quyền sở hữu từ người góp vốn sang công ty. Nên Công ty chưa đủ điều kiện để mang quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình đi thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn được. Do đó việc ký kết hợp đồng thế chấp giữa Công ty cổ phần cà phê Thái Hòa Mường Ảng với Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam liên quan đến quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình là vi phạm điều cấm của Pháp luật. Căn cứ vào điều 122,127,128 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê số 19/12/BĐ năm 2013 giữa bên bảo đảm là Công ty CPCPTHMA với bên nhận bảo đảm là Ngân hàng TMCPHHVN có liên quan đến quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình là vô hiệu.

Do đó, bà S yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty cổ phần cà phê Thái Hòa Mường Ảng với Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam có liên quan đến quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình.

3. Bà Trần Thị S được biết, Giấy chứng nhận QSDĐ của 10 hộ gia đình mà UBND huyện T cấp hiện đang do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (Nay là Trung tâm quản lý đất đai) thuộc UBND huyện T giữ. Vì vậy, trên cơ sở tuyên vô hiệu các hợp đồng nêu trên, bà S yêu cầu Công ty CPCPTHMA, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm quản lý đất đai huyện T (Thuộc UBND huyện T) và các cơ quan, tổ chức có liên quan trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 10 hộ gia đình nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ý kiến của Người được ủy quyền của đồng nguyên đơn, cũng như nội dung Bản luận cứ của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn là 10 hộ gia đình giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên vô hiệu 10 hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, một phần của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và toàn bộ vườn cà phê có liên quan đến quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình, buộc Công ty CPCPTHMA và Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm quản lý đất đai huyện T và các cơ quan, tổ chức có liên quan trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 10 hộ gia đình đã góp vốn vào Công ty như đã nêu trên.

Bị đơn: Công ty CPCPTHMA; trụ sở: Tổ dân phố X, thị trấn M, huyện M, Tỉnh Điện Biên, người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu D1 - Chức danh: Giám đốc. Mặc dù được triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng ông Duyên vẫn vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ngân hàng TMCPHHVN, Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H – Giám đốc (Theo ủy quyền số 188/2011/QĐ-HĐQT, ngày 16 tháng 03 năm 2011 của chủ tịch HĐQT), Tòa án đã triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Trung tâm kTTNMT (Thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Điện Biên) – Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Việt X – Giám đốc. Địa chỉ Tổ dân phố E, Phường N, TP Đ, tỉnh Điện Biên. Người đại diện theo ủy quyền của Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên: Ông Phạm Xuân H1 – Phó Giám đốc Trung tâm. Quá trình giải quyết vụ án được triệu tập đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, ông Phạm Xuân H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về khoản nợ của Công ty CPCPTHMA nợ Trung tâm kTTNMT. Ông Phạm Xuân H1 đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ông Bùi Như Việt - Chánh văn phòng HĐND và UBND huyện T là người được ủy quyền của UBND huyện T (theo Giấy ủy quyền ngày 13/5/2020) có khai như sau: Vào ngày 19/10/2012, UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 10 hộ dân có trong hồ sơ vụ án nêu trên, các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ dân này đang do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Nay là Trung tâm quản lý đất đai) thuộc Phòng tài nguyên và môi trường huyện T quản lý, lưu giữ. Lý do Trung tâm quản lý đất đai huyện T quản lý, lưu giữ mà chưa trả cho Công ty CPCPTHMA là do Công ty CPCPTHMA thuê Trung tâm thông tin k thuật tài nguyên và môi trường (Nay là Trung tâm kTTNMT) thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Điện Biên đo đạc, khảo sát, lập hồ sơ, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Công ty CPCPTHMA còn nợ tiền Trung tâm kTTNMT nên Trung tâm kTTNMT đề nghị Trung tâm quản lý đất đai huyện T chưa trả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty CPCPTHMA. Vì vậy, đến nay toàn bộ số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ dân có trong hồ sơ vụ án nêu trên vẫn đang được Trung tâm quản lý đất đai (Trước là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nay đổi tên là Trung tâm quản lý đất đai và chỉ trực thuộc UBND huyện T) quản lý. Ngoài ra UBND huyện T không có ý kiến gì thêm. Ngày 17/7/2020 ông Vũ Văn Đ – Chủ tịch UBND huyện T ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B2 – Phó chánh văn phòng HĐND & UBND huyện T tham gia tố tụng. Tại phiên tòa (mở lần thứ 2) ông B vắng mặt không có lý do.

Ông Nguyễn Quốc H2 - Viên chức của Trung tâm quản lý đất đai huyện T, là Người được ủy quyền của Trung tâm quản lý đất đai (theo Giấy ủy quyền ngày 26/6/2020) có khai như sau: Trung tâm quản lý đất đai hiện đang lưu giữ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình có tên sau: Hộ gia đình ông Lò Văn B, sinh năm 1973; Hộ gia đình ông Quàng Văn C, sinh năm 1966; Hộ gia đình ông Lò Văn C1, sinh năm 1983; Hộ gia đình ông Lò Hoài V, sinh năm 1976; Hộ gia đình ông Lò Văn C2, sinh năm 1986; Hộ gia đình ông Lường Văn A, sinh năm 1984; Hộ gia đình ông Quàng Văn D, sinh năm 1982; Hộ gia đình ông Lò Văn B1, sinh năm 1962; Hộ gia đình ông Quàng Văn C3, sinh năm 1959; Hộ gia đình ông Quàng Văn C4, sinh năm 1966. Đều cư trú tại: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Các Giấy chứng nhận nêu trên đều do UBND huyện T cấp ngày 16/10/2012 và 19/10/2012. Lý do Trung tâm quản lý đất đai huyện T quản lý, lưu giữ mà chưa trả cho Công ty CPCPTHMA là do Công ty CPCPTHMA thuê Trung tâm thông tin k thuật tài nguyên và môi trường (Nay là Trung tâm kTTNMT) thuộc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Điện Biên đo đạc, khảo sát, lập hồ sơ, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng Công ty CPCPTHMA còn nợ tiền Trung tâm kTTNMT nên Trung tâm kTTNMT đề nghị Trung tâm quản lý đất đai huyện T chưa trả các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty CPCPTHMA. Vì vậy, đến nay toàn bộ số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ dân có trong hồ sơ vụ án nêu trên vẫn đang được Trung tâm quản lý đất đai (Trước là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nay đổi tên là Trung tâm quản lý đất đai và chỉ trực thuộc UBND huyện T) quản lý.

Bà Lò Thị T cán bộ của Công ty CPM tỉnh Điện Biên, là Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Macadamia tỉnh Điện Biên (theo Giấy ủy quyền ngày 05 tháng 6 năm 2020) có khai như sau: Công ty Macadamia Điện Biên đã thực hiện Dự án trồng thử nghiệm cây Maca theo Quyết định: số 649/QĐ-UBND “quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư” ngày 17 tháng 8 năm 2018 của U ban nhân dân tỉnh Điện Biên. Công ty Macadamia thực hiện trồng cây Maca trên đất của những hộ gia đình sau: Hộ gia đình Hộ gia đình ông Lò Văn B, sinh năm 1973; Hộ gia đình ông Quàng Văn C, sinh năm 1966; Hộ gia đình ông Lò Văn C1, sinh năm 1983; Hộ gia đình ông Lò Hoài V, sinh năm 1976; Hộ gia đình ông Lò Văn C2, sinh năm 1986; Hộ gia đình ông Lường Văn A, sinh năm 1984; Hộ gia đình ông Quàng Văn D, sinh năm 1982; Hộ gia đình ông Lò Văn B1, sinh năm 1962; Hộ gia đình ông Quàng Văn C3, sinh năm 1959; Hộ gia đình ông Quàng Văn C4, sinh năm 1966. Các hộ gia đình trên đều cư trú tại: Bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Các hộ gia đình nêu trên có đất ở các khu: Khu L; Khu P; Khu T; C, Khu P, Noong Há. Số cây Maca do Công ty trồng thử nghiệm, được thể hiện trong các Biên bản thẩm định tại chỗ vào các ngày 24,25/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo. Cây Maca được trồng trên đất của các hộ dân có tên trên sinh trưởng và phát triển tốt, cây được trồng từ tháng 9 năm 2018 đến nay đã được 01 năm 09 tháng tuổi. Hiện cây Maca chưa có quả. Tại thời điểm trồng cây maca, trên đất của 10 hộ dân nêu trên có bãi là bãi đất trống, có bãi thì có cây cà phê chết khô. Quan điểm của Công ty CPM tỉnh Điện Biên là phía Công ty không phản tố, không yêu cầu gì đối với toàn bộ số cây maca có trên các bãi đất của toàn bộ 10 hộ gia đình nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, Tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng nêu trên và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, yêu cầu của Người được ủy quyền của đồng nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn, các lời khai của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn là Công ty CPCPTHMA có địa chỉ trụ sở Công ty đóng tại Tổ dân phố X, thị trấn M, huyện M nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đồng nguyên đơn là 10 hộ gia đình đều trú tại bản P, xã Q, huyện T ủy quyền cho bà Trần Thị S là Trợ giúp viên pháp lý công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng, bà S còn là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho 10 hộ gia đình nêu trên. Căn cứ điều 85 BLTTDS năm 2015, điều 138 BLDS năm 2015, chấp nhận việc ủy quyền giữa các đương sự.

Ngày 07/2/2020, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là 10 hộ gia đình trú tại bản P, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên và bị đơn là Công ty CPCPTHMA. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt trực tiếp, thông qua dịch vụ Bưu chính và niêm yết công khai Thông báo thụ lý vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày bị đơn là Công ty CPCPTHMA, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCPHHVN, Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2, đã tiến hành tống đạt trực tiếp, thông qua dịch vụ Bưu chính và niêm yết công khai nhưng bị đơn là Công ty CPCPTHMA, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCPHHVN, Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại 02 buổi hòa giải. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn là Công ty CPCPTHMA, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCPHHVN; UBND huyện T; Trung tâm quản lý đất đai vắng mặt tại phiên tòa (lần thứ hai) không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Bị đơn và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên.

Về nội dung:

Xét 10 hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất lập ngày 19/6/2013 giữa 10 hộ gia đình với Công ty CPCPTHMA là có thật, hai bên thỏa thuận: Bên A góp toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất mô tả tại hợp đồng cho bên B thực hiện trồng, chăm sóc và kinh doanh cây cà phê trong thời gian góp vốn. Bên B đồng ý với việc góp vốn của bên A.

Nội dung hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất thể hiện:

Đặc điểm của thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giá trị quyền sử dụng đất góp vốn; thời hạn góp vốn bằng quyền sử dụng đất; mục đích góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền và trách nhiệm của bên góp vốn và bên nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; việc đăng ký góp vốn và các khoản lệ phí liên quan đến việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất; phương thức giải quyết khi có tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng và cam đoan của các bên. Hợp đồng đã được chính quyền địa phương, nơi có thửa đất của các hộ gia đình góp vốn chứng thực. Sau khi ký hợp đồng với 10 hộ gia đình, Công ty đã dùng hợp đồng này và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình làm thủ tục để vay vốn tại Ngân hàng TMCPHHVN. Nhưng đến cuối năm 2013, đầu năm 2014, Công ty đã không chăm sóc vườn cà phê, đã bỏ mặc vườn cây cà phê đã trồng. Người dân đã góp đất cho Công ty vì vậy mà không có đất để canh tác, sản xuất, không có thu nhập để phục vụ cuộc sống.

Về thủ tục góp vốn: Hội đồng xét xử xét thấy, khi ký kết hợp đồng góp vốn, bên A chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục để góp vốn theo quy định của pháp luật, Vì: Khi ký kết hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình thì phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật quy định tại điều 109, điều 122 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai. Bên A đều là người dân tộc và cư trú ở vùng hẻo lánh, vùng đặc biệt khó khăn nên còn hạn chế về nhận thức pháp luật. Mặt khác, khi Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T chứng thực cũng không xem xét toàn diện, đầy đủ về nội dung, hình thức của hợp đồng, không xem xét ý chí của các thành viên trong hộ nên đã chứng thực cho hợp đồng. Thủ tục góp vốn chưa có văn bản ủy quyền giữa các thành viên trong hộ cho đại diện hộ gia đình để đại diện hộ gia đình có cơ sở ký kết Hợp đồng góp vốn. Nội dung hợp đồng vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, thỏa thuận theo quy định tại điều 4 Bộ luật dân sự, bởi l : Đại diện hộ gia đình ký kết Hợp đồng góp vốn với tài sản góp vốn là Quyền sử dụng đất của cả hộ gia đình nhưng chưa được các thành viên trong hộ đồng ý (chưa có chứng cứ gì thể hiện ý chí của các thành viên trong hộ về việc nhất trí góp vốn), như vậy là chưa "tự nguyện". Vì vậy, Nguyên đơn 10 hộ gia đình yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết với Công ty CPCPTHMA là có cơ sở do bên góp vốn và bên nhận góp vốn chưa hoàn thiện các thủ tục góp vốn. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của 10 hộ gia đình:

Tuyên vô hiệu 10 Hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất giữa 10 hộ gia đình với Công ty CPCPTHMA.

Tuyên vô hiệu phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty CPCPTHMA và Ngân hàng TMCPHHVN, phần vô hiệu là phần liên quan tới quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình nêu trên, bởi l : Do hợp đồng góp vốn được ký kết giữa 10 hộ gia đình với Công ty CPCPTHMA vô hiệu nên kéo theo một phần Hợp đồng thế chấp tài sản số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty CPCPTHMA và Ngân hàng TMCPHHVN cũng vô hiệu, phần vô hiệu là phần liên quan tới quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình.

Khôi phục lại tình trạng ban đầu: Buộc Công ty CPCPTHMA và Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên, UBND huyện T, Trung tâm quản lý đất đai huyện T có trách nhiệm hoàn trả cho 10 hộ gia đình toàn bộ các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và toàn bộ diện tích đất mà 10 hộ gia đình nêu trên đã góp vốn cho Công ty CPCPTHMA.

Đối với cây cà phê do Công ty CPCPTHMA trồng trên diện tích đất mà 10 hộ gia đình góp vốn bằng quyền sử dụng đất vào công ty từ năm 2010, cuối năm 2013 Công ty CPCPTHMA bỏ mặc cây cà phê không đầu tư, chăm sóc, 10 hộ gia đình đã tự bỏ công sức và tiền của gia đình để chăm sóc cây cà phê nhưng do không đủ điều kiện cũng như k thuật vì thế cây cà phê bị chết và không còn giá trị (Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ vào các ngày 24 và 25/9/2019 của TAND huyện T). Sau đó, vào năm 2018, 10 hộ gia đình tiến hành trồng cây maca thử nghiệm theo dự án của huyện T do Công ty cổ phần macadamia tỉnh Điện Biên triển khai. Đối với cây maca trồng trên đất của 10 hộ gia đình, trong thời gian giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đại diện Công ty cổ phần macadamia tỉnh Điện Biên không có yêu cầu, đề nghị gì, vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết đối với cây maca trồng trên đất của 10 hộ gia đình.

Giải quyết hậu quả của một phần hợp đồng thế chấp tài sản số: 19/12/BĐ năm 2013 vô hiệu: Buộc Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên, UBND huyện T, Trung tâm quản lý đất đai huyện T trả lại cho Công ty CPCPTHMA Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình nêu trên để Công ty CPCPTHMA trả lại số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất mà 10 hộ gia đình đã ký hợp đồng góp vốn với Công ty CPCPTHMA.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt nam không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty CPCPTHMA phải trả khoản tiền gốc và lãi phát sinh mà bên Công ty thế chấp diện tích đất và giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình nêu trên để vay vốn của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt nam có quyền khởi kiện Công ty CPCPTHMA để đòi lại khoản tiền vay theo các hợp đồng thế chấp vay vốn nêu trên bằng vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty CPCPTHMA mặc dù đã được triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật nhưng đại diện Công ty CPCPTHMA không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản tiền đã hỗ trợ cho 10 hộ gia đình (là 3.000.000đ/ha) nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên mặc dù đã được tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập lên tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và 02 lần thông báo hòa giải nhưng Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên không có ý kiến gì yêu cầu Tòa án giải quyết đối với khoản nợ của Công ty CPCPTHMA nợ Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên (Theo Bản tự khai của Trung tâm quản lý đất đai huyện T khai ngày 29/6/2020vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

Về Án phí:

Do yêu cầu của đồng nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty CPCPTHMA phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 3.000.000đ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 85; khoản 5 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 109; Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 388, Điều 389, 410 Bộ luật dân sự 2005; Điều 106, 131 Luật đất đai 2003; điều 66 Nghị định 84/2007/NĐ-CP, ngày 25/5/2007; khoản 2 điều 146, điều 155 Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2003; điều 29 Luật doanh nghiệp;

Căn cứ khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng Nguyên đơn, cụ thể:

10 Hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã ký kết vào ngày 19/6/2013 giữa đồng nguyên đơn là 10 hộ gia đình nêu trên với Công ty CPCPTHMA vô hiệu.

Phần Hợp đồng thế chấp tài sản: số 19/12/BĐ năm 2013 giữa Công ty CPCPTHMA với Ngân hàng TMCPHHVN vô hiệu. Phần vô hiệu là phần Hợp đồng liên quan tới quyền sử dụng đất của 10 hộ gia đình ở bản P, xã Q, huyện T nêu trên.

Buộc Công ty CPCPTHMA, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam phối hợp với Trung tâm kTTNMT tỉnh Điện Biên, UBND huyện T, Trung tâm quản lý đất đai huyện T phải hoàn trả toàn bộ số diện tích đất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu dưới đây và Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho 10 hộ gia đình theo danh sách dưới đây:

Số Giấy

Diện tích Stt

Hộ gia đình

chứng nhận

Ngày cấp GCN

(m2) 1 Hộ gđ ông Lò Văn C2

BC 575172 1.985,3

Cấp ngày: 19/10/2012 2 Hộ gđ Ông Lường Văn A

BC 575176 1.455,3

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575157 758,3

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575156 1.133,3

Cấp ngày: 19/10/2012 3 Hộ gđ ông Quàng Văn D

BC 575155 1.423,6

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575154 1.316,2

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575158 651,7

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575159 1.664,7

Cấp ngày: 19/10/2012 4 Hộ gđ ông Quàng Văn C4

BC 575160 1.141,2

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575161 2.376,1

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575165 5.239,1

Cấp ngày: 19/10/2012

BG 028164 2.226,0

Cấp ngày: 19/10/2012 5 Hộ gđ ông Quàng Văn C3

BC 575163 2.175,8

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575162 2.237,2

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575181 3.980,1

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 028180 5.699,8

Cấp ngày: 19/10/2012 6 Hộ gđ ông Lò Văn B1

BC 575178 2.170,6

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575179 754,8

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575177 1.318,5

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575153 432,3

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575152 3.895,9

Cấp ngày: 19/10/2012 Hộ gđ ông Lò Hoài V 7

BC 575151 571,2

Không có ngày tháng cấp (chủ sổ Lò Văn Dăm)

BC 575150 1.038,2

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575149 808,1

Cấp ngày: 16/10/2012

BC 575167 1.851,7

Không có ngày tháng cấp 8 Hộ gđ ông Lò Văn C1

BC 575166 1.890,6

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575168 900,7

Cấp ngày: 19/10/2012 9 Hộ gđ ông Quàng Văn C

BC 575171 1.315,4

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575170 1.558,0

Cấp ngày: 19/10/2012

BC 575175 2.126,1

Cấp ngày: 19/10/2012 10 Hộ gđ ông Lò Văn B

BC 575174 1.156,3

Không có ngày tháng cấp

BC 575173 578,9

Cấp ngày: 19/10/2012

Tổng số

69.707,5

2. Án phí:

Công ty CPCPTHMA phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Phiên tòa kết thúc cùng ngày, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:

-

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TAND tỉnh Điện Biên;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Mường Ảng;

- Chi cục THADS huyện Mường Ảng;

- Các đương sự;

- Lưu HSVA.

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Thị Vân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vân Lƣờng Văn Hƣởng Lƣu Thị Nguyên

Cỡ chữ