vanban.org

Bản án 03/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Hải An, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/04/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ gốc là 17.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phạm Văn Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành xong khoản tiền nợ gốc này và tiếp tục chịu khoản tiền phạt chậm trả lãi của số tiền lãi trong h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V - D"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ gốc là 17.
  • Căn cứ chính? Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/DS-ST
Ngày 28-4-2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phùng Văn Chất

Ông Lưu Xuân Mung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2020 và Thông báo về thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa số 01/2020/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V; địa chỉ: Số 89 L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Quang H; cư trú tại: Số 150 H, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 11 năm 2019). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ; cư trú tại: Số 513, đường Đ, tổ dân phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 11 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hà Quang H trình bày:

Ngày 23 tháng 01 năm 2018, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng V) - Chi nhánh H - Phòng Giao dịch B và ông Phạm Văn Đ ký hợp đồng tín dụng với nội dung: Ngân hàng V - Chi nhánh H - Phòng Giao dịch B cho ông Phạm Văn Đ vay số tiền 50.000.000 đồng với mục đích thanh toán mua sắm đồ gia dụng; thời hạn cho vay 36 tháng; lãi suất vay là 28%/năm và được điều chỉnh theo từng thời kỳ; lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất áp dụng đối với tiền lãi chậm trả không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; nợ gốc và nợ lãi được trả theo định kỳ 01 tháng/01 lần vào ngày 01 hàng tháng, tổng cộng gồm 36 kỳ.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng nêu trên, Ngân hàng V - Chi nhánh H - Phòng Giao dịch B đã giải ngân cho ông Đ số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ; tính đến thời điểm hiện tại, ông Đ mới thanh toán cho Ngân hàng V số tiền 33.535.573 đồng. Vì vậy, Ngân hàng V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng V số tiền nợ gốc là 17.551.369 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn là 2.287.399 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 24.348.020 đồng, số tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.513.233 đồng, tổng cộng là 47.700.021 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Bị đơn là ông Phạm Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt và không có lời khai.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V về việc buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 17.551.369 đồng, số tiền lãi trong hạn là 2.287.399 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 24.348.020 đồng, số tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.513.233 đồng, tổng cộng là 47.700.021 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là ông Phạm Văn Đ đang cư trú tại số 513, đường Đ, tổ dân phố B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Phạm Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán số tiền 47.700.021 đồng, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm số TPNN0010324/201801/202853 ngày 23 tháng 01 năm 2018 giữa Ngân hàng V - Chi nhánh H - Phòng Giao dịch B và ông Phạm Văn Đ được ký kết trên cơ sở tự nguyện, chủ thể ký kết hợp đồng là những người có năng lực hành vi dân sự và có đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng; nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, hợp đồng có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, Ngân hàng V - Chi nhánh H - Phòng Giao dịch B đã giải ngân cho ông Đ số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng việc trả nợ theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ông Phạm Văn Đ còn nợ Ngân hàng V số tiền gốc là 17.551.369 đồng, số tiền lãi trong hạn là 2.287.399 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 24.348.020 đồng và số tiền phạt chậm trả lãi là 3.513.233 đồng, tổng cộng là 47.700.021 đồng. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V về việc buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán số tiền 47.700.021 đồng (làm tròn là 47.700.000 đồng) và số tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; vì vậy bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 233, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 117, Điều 119 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Khoản 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Buộc ông Phạm Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ gốc là 17.551.369 đồng, số tiền lãi trong hạn là 2.287.399 đồng, số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 24.348.020 đồng và số tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 3.513.233 đồng, tổng cộng (làm tròn) là 47.700.000 đồng (bốn mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phạm Văn Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thi hành xong khoản tiền nợ gốc này và tiếp tục chịu khoản tiền phạt chậm trả lãi của số tiền lãi trong hạn và số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ lãi này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thì lãi suất mà ông Phạm Văn Đ phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phạt chậm trả lãi còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phạm Văn Đ phải nộp 2.385.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 985.000 đồng (chín trăm tám mươi lăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005443 ngày 07 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

4. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ