vanban.org

Bản án 03/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K. Buộc anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K - Lê Văn D, Nguyễn Thị Lệ N"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/DS-ST
Ngày: 03-02-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhập

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Đào

Ông Nguyễn Thành Thật

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2019/TLST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2019/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần K;

Trụ sở chính: 40-42-44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Tuấn A, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Tuấn A: Ông Lâm Văn T (Theo giấy ủy quyền số 2588/UQ-NHKL), chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP K – Phòng giao dịch G.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Văn T: Ông Nguyễn Thành N – sinh năm 1967 (Theo giấy ủy quyền số 01/UQ-PGDGQ), chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP K – Phòng giao dịch G (có mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn D, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Chị Nguyễn Thị Lệ N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp 11, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/7/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP K – Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Thành N trình bày:

Vào ngày 02/3/2017, Ngân hàng Thương mại cổ phần K (TMCP K) có cho anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N vay số tiền 205.000.000đ theo Hợp đồng nguyên tắc hạn mức tín dụng số 384/17/HĐHM/1011-0861, ngày 02/3/2017 và Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017; mục đích vay là sản xuất nông nghiệp; thời hạn vay là 12 tháng; ngày giải ngân 03/3/2017; ngày đến hạn 03/3/2018; lãi suất trong hạn 10,98%/năm (lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K cộng thêm 3,78%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.

Tài sản anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng nêu trên theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 384/17/HĐTC-BĐS/1011-0861, ngày 02/3/2017 là: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 12.930m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 11, thửa số 967, đất tọa lạc tại ấp 11, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 162093 được UBND huyện G cấp ngày 22/7/2014 do anh Lê Văn D đứng tên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N có đóng lãi cho Ngân hàng đến ngày 12/10/2017 được số tiền 13.943.075đ, từ ngày 12/10/2017 đến nay anh D, chị N không đóng lãi cũng không thanh toán nợ gốc cho ngân hàng. Ngân hàng TMCP K đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở cũng như tạo điều kiện cho anh D, chị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh chị vẫn không có thiện chí thực hiện. Tính đến ngày 03/02/2020, anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N còn nợ Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi là 282.819.959đ (hai trăm tám mươi hai triệu, tám trăm mười chín nghìn, chín trăm năm mươi chín đồng), trong đó: gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ và tiền phạt chậm trả lãi là 3.133.847đ.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP K xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu trả số tiền 3.133.847đ là tiền phạt chậm trả lãi. Đồng thời, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N phải trả số nợ tính đến ngày 03/02/2020 là 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ) và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp, anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh D, chị N không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh chị.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng quy định và thuộc thẩm quyền giải quyết. Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các bước tiến hành tố tụng đúng theo quy định, tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Riêng đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, Điều 466, 468 và 470 Bộ luật dân sự 2015: Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi là 3.133.847đ. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K buộc anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N phải trả cho ngân hàng số tiền 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ) và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại nên Ngân hàng TMCP K khởi kiện anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được Tòa án thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3 Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về nội dung: Vào ngày 02/3/2017, giữa Ngân hàng TMCP K với anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N có ký kết Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017, theo đó: Ngân hàng TMCP K cho anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N vay số tiền 205.000.000đ, mục đích vay là sản xuất nông nghiệp; thời hạn vay là 12 tháng; ngày giải ngân 03/3/2017; ngày đến hạn 03/3/2018; lãi suất trong hạn 10,98%/năm (lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần và được tính bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lãnh lãi cuối kỳ của Ngân hàng TMCP K cộng thêm 3,78%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh D, chị N đã nhận đủ tiền vay, từ ngày vay đến ngày 12/10/2017 có đóng lãi cho Ngân hàng được số tiền 13.943.075đ, từ đó đến nay không đóng lãi và trả nợ gốc cho Ngân hàng theo thỏa thuận đã nêu trong hợp đồng. Ngân hàng có đến nhắc nhở nhiều lần nhưng anh D, chị N chỉ hứa hẹn mà không trả nợ. Việc anh D, chị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng là đã vi phạm Điều 3 của Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017 mà các bên đã ký kết nên Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu anh D, chị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Xét, Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017 giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực thi hành.

Tại phiên tòa, Ngân hàng TMCP K xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi phạt chậm trả lãi. Việc tự nguyện rút 01 phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là phù hợp nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu này của nguyên đơn.

Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP K buộc anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N phải trả số nợ tính đến ngày 03/02/2020 là 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ) và lãi phát sinh từ kể từ ngày 04/02/2020 cho tới khi thanh toán xong khoản nợ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp vào ngày 13/12/2019 và ngày 30/12/2019 để tạo điều kiện cho các bên đương sự hòa giải, thỏa thuận với nhau nhưng anh D, chị N đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Hơn nữa, anh D, chị N cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K cho Tòa án. Tính đến hết ngày 03/02/2020, anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N còn nợ ngân hàng tổng số tiền là: 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ). Như vậy, anh D, chị N vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 BLDS 2015 nên cần buộc anh D, chị N có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc cho Ngân hàng TMCP K là phù hợp. Đối với yêu cầu trả số tiền nợ lãi tạm tính đến hết 03/02/2020 của Ngân hàng TMCP K là 74.686.113đ (trong đó: lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ) và lãi phát sinh từ kể từ ngày 04/02/2020 cho tới khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy, cách tính tiền lãi của Ngân hàng TMCP K phù hợp với thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017 cho nên yêu cầu trả lãi này của Ngân hàng TMCP K đối với anh D, chị N là có cơ sở chấp nhận.

Xét Hợp đồng thế chấp tài sản số 384/17/HĐTC-BĐS/1011-0861, ngày 02/3/2017 giữa Ngân hàng TMCP K với anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N thấy rằng: Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 12.930m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 11, thửa số 967, đất tọa lạc tại ấp 11, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 162093 được UBND huyện G cấp ngày 22/7/2014 do anh Lê Văn D đứng tên được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Trung Kiên vào ngày 03/3/2017 theo số công chứng 459, quyển số II TP/CC-SCC/HĐGD để bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 384/17/HĐTD/1011-0861, ngày 02/3/2017 là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại các Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 167 Luật Đất đai 2013 nên cần duy trì để bảo đảm thi hành án. Như vậy, nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên hoặc không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp đã ký thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trong tổng số tiền phải trả là 13.984.306đ (279.686.113đ x 5%) do ông bà có lỗi trong vụ kiện này.

Ngân hàng TMCP K được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466, 470 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền phạt chậm trả lãi.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.

Buộc anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 279.686.113đ (hai trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm tám mươi sáu nghìn, một trăm mười ba đồng), (trong đó: vốn gốc là 205.000.000đ, lãi trong hạn là 8.941.075đ, lãi quá hạn là 65.745.038đ) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản vay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày Ngân hàng TMCP K có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N chưa thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu lãi từ ngày 04/02/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Sau khi anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có nghĩa vụ hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 384/17/HĐTC-BĐS/1011-0861, ngày 02/3/2017 cho anh D, chị N.

Nếu anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ vay, tài sản thế chấp gồm có: Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất có diện tích 12.930m2 đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 11, thửa số 967, đất tọa lạc tại ấp 11, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BR 162093 được UBND huyện G cấp ngày 22/7/2014 do anh Lê Văn D đứng tên.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Văn D, chị Nguyễn Thị Lệ N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 13.984.306đ (mười ba triệu, chín trăm tám mươi bốn nghìn, ba trăm lẻ sáu đồng).

Ngân hàng TMCP K không phải nộp án phí và được nhận lại số tiền 6.470.000đ (sáu triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004265, ngày 007/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Kiên Giang.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/02/2020). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 9 Luật thi hành án dân sự và các Điều 7, 7a, 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ