vanban.org

Bản án 03/2020/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/01/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1.

Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của à Võ Thị U đối với ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1. Buộc ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 thu hoạch lúa để trả lại cho à Võ Thị U diện tích 3.964 6m2 (gồm các điểm được đánh số 1 đến số 8: cạnh dài 70 5m; Từ điểm số 1 kéo đến đoạn nét đứt dài 39 17m; Từ đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Võ Thị U-Nguyễn Văn D1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/DS-PT
Ngày: 14-01- 2020
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út

Các Thẩm phán:

Bà Bùi Thị Phương Loan

Bà Hoàng Thị Hải Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện – Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 tháng 12 năm 2019 và ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 275/2019/TLPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2019 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2019/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i tỉnh Cà Mau ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 253/2019/QĐPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị U sinh năm 1924 (vắng mặt);

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh M1, sinh năm 1963 (có mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C ..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

1. Bà Võ Bé N là Trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn Truyền Luật sư của Văn phòng Luật sư Ngô Đình Chiến thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn D1 sinh năm 1960 (có mặt).

2. Bà Trương Thị T1 sinh năm 1969 (có mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C ..

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

1. Luật sư Trần Bình Trị thuộc Văn phòng luật sư Ánh Sáng Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

2. Luật sư Nguyễn Văn Nuôi thuộc Văn phòng luật sư Ánh Sáng Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 9 thị t huyện T tỉnh C ..

2. Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam - Chi nhánh huyện Trần Văn Thời (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 9 thị t huyện T tỉnh C ..

3. Bà Nguyễn Thị Ánh M1 sinh năm 1963; Cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C . (có mặt).

4. Bà Nguyễn Thanh H sinh năm 1955; Cư trú tại: Ấp L xã L huyện T tỉnh C . (vắng mặt).

5. Bà Nguyễn Thị T4 sinh năm 1959; Cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C . (có mặt).

6. Bà Nguyễn Thị T5 sinh năm 1968; Cư trú tại: Ấp C xã K huyện T tỉnh C . (vắng mặt).

7. Ông Nguyễn Văn T6 sinh năm 1968; Cư trú tại: Ấp C xã K huyện T tỉnh C . (vắng mặt).

8. Ông Nguyễn Văn D2 sinh năm 1969; Cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C . (có mặt).

9. Chị Nguyễn Kiều P1 sinh năm 1999 (vắng mặt).

10. Anh Nguyễn Hoài P2 sinh năm 2004 (vắng mặt).

Người đại diện của anh Nguyễn Hoài P2: Ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1.

Cùng cư trú tại: Ấp 5 xã K huyện T tỉnh C ..

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn D1 – Là ị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2018 của nguyên đơn và các lời khai tại tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh M1 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Thanh Hùng à à Võ Thị U nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Sinh diện tích khoảng 21 công. Đất tọa lạc tại ấp 5 xã Khánh Bình Đông huyện Tr n Văn Th i tỉnh Cà Mau. Ông Hùng à U quản lý sử dụng đến năm 1995 ông Hùng à U cho à M1 07 công (t m 03 mét trong đó đất ruộng khoảng 05 công đất vư n khoảng 02 công). Ông Hùng, bà U còn lại diện tích 15.437m2 sau khi cắt cho đất à M1. Sau đó không nhớ năm nào à U ông Hùng cho ông Nguyễn Văn D1 03 công đất ruộng và ph n đất vư n mặt tiền theo đo đạc là 13 5m ngang hậu 9 7m dài giáp ph n đất ruộng của à M1 (đất cập nhà của à U). Cho ông Nguyễn Văn D2 03 công (t m 03 mét) ph n đất vư n và đất ruộng còn lại là của ông Hùng à U. Vị trí cụ thể ph n đất ruộng à U cho các con như sau: Từ vư n ra là đất cho à M1 đến đất ông D1 đất ông D2 diện tích đất ruộng còn lại sau hậu là đất ông Hùng à U. Ông Hùng ị ệnh nên ông Hùng cho ông D1 mượn làm hàng năm ông D1 có cho lúa lại à U. Năm 2014 ông D1 làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ph n đất đã cho ông D1 và à U có lăn tay à U không iết ông D1 đã sang tên hết ph n đất còn lại của ông Hùng à U cho ông D1 đứng tên. Năm 2016 ông Hùng chết các con trong gia đình họp lại yêu c u ông D1 à T1 trả đất lại cho à U ông đồng cho rằng đất này ông Hùng à U đã cho ông D1 và ông D1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đồng ý trả lại. Bà U yêu c u ông D1 à T1 trả nhà trả lại ph n đất ruộng theo đo đạc thực tế 6.942,4m2 ph n đất vư n 1.979m2. Yêu c u hủy một ph n Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D1 à T1.

Tại phiên tòa ngư i đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu c u Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i giải quyết uộc ông D1 à T1 trả nhà trả lại ph n đất ruộng theo đo đạc thực tế 6.942,4m2 ph n đất vư n 1.979m2 cho à U và điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D1 à T1 cho à U đứng tên quyền sử dụng đất.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn D1 trình bày: Ông D1 thống nhất như nội dung trình ày của à U về nguồn gốc đất. Ông thống nhất về ph n đất ruộng như à U trình ày lúc cha ông là ông Hùng còn sống ông Hùng à U cho à M1 07 công (t m 03 mét) trong đó đất ruộng khoảng 05 công đất vư n khỏang 02 công. Cho ông D1 03 công đất ruộng và ph n đất vư n mặt tiền theo đo đạc là 13 5m dài giáp ph n đất ruộng của à M1. Cho ông D2 03 công (t m 03 mét). Vị Trí cụ thể: Từ vư n ra là 05 công đất ruộng cho à M1 kế là 03 công đất ruộng cho ông D1 kế đó là 03 công đất ruộng cho ông D2 ph n còn lại là đất của ông Hùng à U. Năm 2014 ông Hùng à U đã cho ông D1 hết diện tích đất vư n đất ruộng còn lại và ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 15.437m2 trong đó được cấp luôn 03 công đất của ông D2. Ông D1 xác định đã cho hết đất nên ông không đồng ý theo yêu c u của à U.

Đối với yêu c u của ông Nguyễn Văn D2 yêu c u điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ph n đất của ông D2 theo đo đạc thực tế 4.176 2m2 hiện nay ông D1 và à T1 đứng tên ông D1 đồng ý điều chỉnh lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D2 đứng tên.

Bị đơn bà Trương Thị T1 trình bày: Bà T1 thống nhất như nội dung trình ày của ông D1 đất đã cho ông D1 à T1 nên không đồng ý trả nhà trả đất theo yêu c u của à U.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, bà Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T5 trình bày:

Như nội dung trình ày của à U là đúng à xác định cha mẹ à là ông Hùng à U cho ông D1 03 công đất ruộng cho à M1 05 công đất ruộng cho ông D2 03 công đất ruộng cho ông D1 01 ph n đất vư n cập với ph n đất của à M1 vị trí đúng như đo đạc. Ph n đất đang tranh chấp là đất của à U à U không có cho ông D1. Hiện nay à U không có nhà ở không có đất sản xuất nên yêu c u ông D1 à T1 trả nhà trả đất lại cho à U.

Theo đơn yêu cầu ngày 30 tháng 7 năm 2018 cũng như các lời khai tại tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn D2 trình bày:

Năm 1998 cha mẹ ông D2 là của ông Nguyễn Thanh Hùng à à Võ Thị U cho ông D2 ph n đất ruộng 03 công t m 3 mét (diện tích theo đo đạc thực tế là 4.176,2m2) thửa số 693 đất do ông Hùng à U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất tọa lạc tại ấp 5 xã Khánh Bình Đông huyện Tr n Văn Th i tỉnh Cà Mau. Ông là ngư i trực tiếp canh tác đất nhưng chưa tách quyền sử dụng đất cho ông ông đứng tên. Năm 2014 ông Nguyễn Văn D1 và à Trương Thị T1 lập hồ sơ sang tên toàn ộ ph n đất của ông Hùng à U sang cho ông D1 à T1 đứng tên trong đó có 03 công đất của ông D2. Ông D2 yêu c u Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i xem xét giải quyết hủy một ph n Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D1 à T1 tại thửa số 693 diện tích theo đo đạc thực tế là 4.176 2m2 để cấp lại cho ông đứng tên.

Tại phiên tòa ông D2 thay đổi nội dung yêu c u ông D2 yêu c u Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i xem xét giải quyết uộc ông D1 à T1 phải điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông D1 à T1 thửa số 693 diện tích thực tế là 4.176 2m2 để cấp lại cho ông đứng tên.

Tại công văn số 2399/NHNoCM-KTNQ ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Cà Mau xác định: Khách hàng Nguyễn Văn D1 đang chế chấp quyền sử dụng đất số BR 309466 diện tích 6.539 1m2 và Quyền sử dụng đất số BR 309466 diện tích 6201 1m2 vay vốn số tiền 32.000.000 đồng tại Agri ank chi nhánh huyện Tr n Văn Th i tỉnh Cà Mau. Số tiền lãi tạm tính đến ngày 04/9/2018 là 1.415.611 đồng. Đến th i điểm hiện nay món vay của khách hàng Nguyễn Văn D1 chưa thuộc diện nợ xấu nên Agri ank tỉnh Cà Mau không yêu c u khách hàng Nguyễn Văn D1 thanh toán nợ trước hạn.

Từ nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số:116/2019/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2019 (Kèm đính chính) của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau quyết định:

Căn cứ Điều 26 Điều 35 Điều 227 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ an Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu c u của nguyên đơn à Võ Thị U. Buộc ị đơn ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 chị Nguyễn Kiều P1 anh Nguyễn Hoài P2 trả cho nguyên đơn à Võ Thị U nhà xây dựng ằng ê tông cốt thép ngang mặt tiền 6 5m ngang hậu 9 5m dài 11 9m (vị trí cụ thể có mảnh trích đo địa chính số 21-2018 ngày 20/4/2018 kèm theo) và căn nhà sau ằng cây gỗ địa phương cất nối liền với nhà trên ngang 4 3m dài 9 45m (có iên ản thẩm định hiện trạng thực tế đất tranh chấp ngày 29/5/2019 kèm theo).

Buộc ị đơn ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 Nguyễn Kiều P1 Nguyễn Hoài P2 trả cho nguyên đơn à Võ Thị U ph n đất vư n theo đo đạc thực tế 1.979m2 ph n đất ruộng 6.942,4m2. Vị trí cụ thể ph n đất vư n: Hướng đông cạnh ngang mặt tiền 22m (giáp đất à Tr n Kim Thương và ph n đất ông D1 được à U cho). Hướng ắc hướng tây giáp đất à Nguyễn Thị Ánh M1. Hướng nam giáp đất à Tr n Kim Thương. Vị trí cụ thể ph n đất ruộng: Hướng Đông giáp đất ông D2. Hướng tây giáp đất à Nguyễn Thị Xa. Hướng nam giáp đất à Tr n Kim Thương. Hướng Bắc giáp đất à Huỳnh Thị Bạch (có mãnh trích đo địa chính 21-2018 ngày 20/4/2018 kèm theo).

Bà Võ Thị U có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Chấp nhận yêu c u độc lập của ông Nguyễn Văn D2. Buộc ông Nguyễn Văn D1 làm thủ tục sang tên ph n đất 4.176,6m2 cho ông Nguyễn Văn D2 đứng tên (có mãnh trích đo địa chính 21-2018 ngày 20/4/2018 kèm theo). Ông Nguyễn Văn D2 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 ông Nguyễn Văn D1 kháng cáo toàn ộ Bản án sơ thẩm theo hướng sửa toàn ộ án sơ thẩm không chấp nhận yêu c u khởi kiện của à Võ Thị U; Giữ nguyên ph n đất cho ông D1 sử dụng.

Tại phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn D1 giữ nguyên yêu c u kháng cáo.

Luật sư Nguyễn Văn Nuôi: Đề nghị chấp nhận yêu c u kháng cáo của ông D1.

Luật sư Nguyễn Văn Truyền: Đề nghị không chấp nhận yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1 yêu c u giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Bà Võ Bé N: Xác định việc lăn tay hợp đồng cho hết đất giữa vợ chồng à U với ông D1 là ị nh m lẩn; Việc vợ chồng à U nằm một chỗ không thể đến Ủy an nhân dân xã ký hợp đồng nên nh cán ộ xã xuống cho lăn tay thì đã vi phạm quy định về chứng thực hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08-12-2000 về công chứng chứng thực.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Tuyên xử không chấp nhận yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1 giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên đối với quan hệ pháp luật tranh chấp Bản án sơ thẩm xác định là tranh chấp quyền sử dụng đất là chưa đ y đủ. Nguyên đơn kiện ị đơn 02 ph n đất 01 ph n theo hợp đồng tặng cho và 01 ph n đất do à Võ Thị U ông Nguyễn Thanh Hùng đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” theo khoản 3 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện ị đơn yêu c u ị đơn trả lại ph n đất vư n gắn liền với toàn ộ nhà cửa nguyên đơn xây dựng đất vư n theo đo đạc thực tế 1.979m2 (2.655,3m2 – 676,3m2). Toàn ộ khuôn viên đất vư n thổ cư là 2.655 3m2 nhưng nguyên đơn chỉ đòi 1.979m2 gồm các điểm được đánh từ điểm số 9 10 14 và từ điểm số 14 đo qua điểm số 13 có cạnh dài 22m) (theo ản vẽ ổ sung kèm theo Công văn số: 13 ngày 09-01-2020 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Tr n Văn Th i). Ph n đất thổ cư còn lại 676 3m2 gồm các điểm được đánh số từ 10 12 13 và từ điểm 13 đo qua hướng điểm 14 mặt tiền (đoạn nét đứt) có cạnh dài 13 5m; Ph n đất này nằm trong diện tích của hợp đồng tặng cho nhưng nguyên đơn không có tranh chấp với ị đơn. Ph n đất thứ hai nguyên đơn đòi theo đo đạc thực tế là 6.942,4m2. Diện tích 6.942 4m2, thì có 3.964,6m2 là nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho à Võ Thị U ông Nguyễn Thanh Hùng vào ngày 07-01-2013 ph n đất này nằm sau hậu đất. Ph n còn lại 2.977 8m2 theo ản vẽ ổ sung diện tích này có các cạnh 70 9m 70 65m 42 05m 42 05m ph n này được à U ông Hùng lập hợp đồng tặng cho ông D1 à T1 trong tổng diện tích là 15.437m2. Đồng th i khi ông D1 à T1 đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 15.437m2 thì ông à cũng đã đăng ký luôn cả diện tích của ông D2 4.176 2m2 thuộc thửa 693 tuy nhiên ph n đất này ông D2 canh tác ổn định có

ao riêng. Quá trình giải quyết vụ án từ sơ thẩm đến phúc thẩm (Tòa án đã ghi nhận ý kiến thì ông D2 và ông D1 à T1 thống nhất giao lại cho ông D2 toàn ộ diện tích 4.176 2m2 theo ản vẽ) nên ông D2 được quyền đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền theo luật định.

Tại phiên Tòa phúc thẩm nguyên đơn chỉ xác định tặng cho ị đơn diện tích 4.269,8m2 đất ruộng và đất thổ cư 676 3m2. Ph n còn lại nguyên đơn xác định không tặng cho nhưng ị đơn tự ý cho lăn tay hết diện tích gồm: Đất ông D2 4.176,2m2 đất vư n 1.979m2 và ph n đất 2.977 8m2 nối liền sau ph n đất à U ông Hùng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.964 6m2 ( ị đơn đang sử dụng trồng lúa). Tại Tòa phúc thẩm phía ông D1 à T1 chỉ thống nhất trả lại cho nguyên đơn ph n đất 3.964 6m2 và ph n đất của ông D2 ngoài ra không chấp nhận yêu c u nào khác của nguyên đơn.

Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được chứng thực ngày 24-9-2014 xác lập giữa à U (có chữ ký của à U) ông Hùng với ông D1 à T1. Theo à M1 đại diện cho à U và ngư i trợ giúp pháp lý cho à U cho rằng vào th i điểm à U lăn tay tặng cho đất ông D1 à T1 thì à U đã nh m lẫn nghĩ rằng lăn tay là chỉ tặng cho ph n đất như đã nêu chứ không cho hết diện tích như ông D1 à T1 trình ày. Thấy rằng: Tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của à U ông Hùng năm 2014 có lăn tay ( à U có ghi chữ Út hẳn hoi) quá trình xác lập đều có cán ộ địa chính xã ông Tr n Văn Băng và Trưởng ấp 5 là ông Lê Hoàng Nhân chứng kiến (Bút lục số: 229 269) điều đó cho thấy ý chí của à U ông Hùng đã hoàn toàn tự nguyện không ị ép uộc hay nh m lẫn khi tặng cho ph n đất này. Sau khi chuyển quyền sử dụng vợ chồng ông D1 à T1 đã dọn về nhà cha mẹ của mình sinh sống canh tác làm ruộng lập vư n trồng cây trên toàn ộ ph n đất; đồng th i vợ chồng ông D1 cũng ỏ tiền ra thuê ngư i hoàn thiện căn nhà do ông Hùng à U xây cất; vợ chồng ông D1 cũng tiếp tục xây cất nhà sau ằng ê tông (thành nhà chữ L); sau đó vợ chồng ông D1 cũng cất tiếp nhà cột gỗ lợp tol. Th i gian này vợ chồng ông D1 đã phụng dưỡng chăm sóc cha mẹ đến khi ông Hùng chết (có tổ chức đám tang tại nhà nay vợ chồng ông D1 tiếp tục th cúng ông Hùng)… Các sự việc này xảy ra đều được các con của à U iết nhưng không có ai ngăn cản phản đối gì.

Xét việc phía nguyên đơn những ngư i ảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình ày hợp đồng là ị nh m lẫn diện tích và ph n đất nêu trên là đất cấp cho hộ gia đình nếu chỉ có ông Hùng à U tặng cho cũng không có hiệu lực. Về căn cứ cho rằng hợp đồng có sự nh m lẫn về diện tích nhưng phía nguyên đơn chỉ trình ày ằng l i nói không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh. Về nguồn gốc ph n đất tặng cho nêu trên phía nguyên đơn cũng tự khai là nhận chuyển nhượng từ Lê Văn Sinh diện tích khoảng 21 công t m lớn sau đó cho lại các con như vậy tài sản này cũng không phải tài sản của hộ gia đình nên ông Hùng à U có toàn quyền tặng cho ông D1 à T1. Từ phân tích trên c n giữ nguyên ph n đất à U, ông Hùng đã tặng cho vợ chồng ông D1 để vợ chồng ông D1 tiếp tục sử dụng. Tuy nhiên trên ph n đất đã tặng cho có căn nhà do à U ông Hùng cất lên năm 2014 (vợ chồng ông D1 đã vào ở từ khi xây mới) nay định giá xây dựng là 109.638.000 đồng. Do ông D1 à T1 không chứng minh được việc à U ông Hùng tặng cho đất có cả căn nhà này nên yêu c u của nguyên đơn đòi căn nhà này là có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên do nhà ở đã xuống cấp nếu tháo dỡ thì giá trị sử dụng không còn nên c n giữ căn nhà cho vợ chồng con cái ông D1 sử dụng vợ chồng ông D1 có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền xây cất cho à U với giá xây dựng mới là 109.638.000 đồng (để à U có nguồn tiền dưỡng già khi đang sống với à M1) là phù hợp.

Đối với việc ông D1 cho rằng căn nhà nấu cơm (án sơ thẩm chưa xem xét) là do ông cất và ông có ỏ tiền vào hoàn công căn nhà ông Hùng à U xây năm 2014 nhưng ông D1 không xuất trình được chứng cứ và cũng không có yêu c u gì nên nội dung này chưa được giải quyết trong cùng vụ án này là phù hợp. Đồng th i đối với ph n đất của à U cùng đứng tên với ông Hùng (đã chết) giao lại cho à U có ½ (một nửa) là di sản thừa kế của ông Hùng để lại chưa chia nếu các con của ông Hùng à U không thỏa thuận được việc phân chia với à U thì có quyền yêu c u chia thừa kế theo quy định.

Từ cơ sở trên c n sửa một ph n Bản án sơ thẩm. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận một ph n kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1 là phù hợp.

Đại diện Viện kiểm sát đề không chấp nhận toàn ộ kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Do sửa án sơ thẩm nên mỗi ên đều phải chịu ½ chi phí tố tụng. Chi phí tố tụng sơ thẩm: 6.089.000 đồng nguyên đơn đã dự nộp; chi phí tố tụng phúc thẩm 500.000 đồng ị đơn đã nộp. Như vậy uộc ị đơn trả lại cho nguyên đơn 2.794.500 đồng.

Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

+ Án phí không giá ngạch: Ông D1 phải chịu 300.000 đồng. Ông D2 không phải chịu (đã miễn dự nộp).

+ Án phí có giá ngạch: Bà U có đơn xin miễn nên được xét miễn do ngư i cao tuổi theo Điều 12 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thư ng vụ Quốc hội. quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Ông D1 à T1 phải chịu đất lập vư n có giá 30.000 đồng/m2; đất ruộng 20.000/m2. Ph n đất 3.964 6m2 x 20.000 đồng x 5% = 3.964.600 đồng; án phí hoàn trả giá trị căn nhà 109.638.000 đồng x 5% = 5.481.900 đồng. Tổng số tiền án phí ông D1 à T1 phải chịu là 9.746.500 đồng.

- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D1 không phải chịu đã dự nộp 300.000 đồng được hoàn lại.

Những ph n khác của Bản án sơ thẩm không ị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận một ph n kháng cáo của ông Nguyễn Văn D1. Sửa một ph n Bản án dân sự sơ thẩm số: 116/2019/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của à Võ Thị U đối với ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1.

- Buộc ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 thu hoạch lúa để trả lại cho à Võ Thị U diện tích 3.964 6m2 (gồm các điểm được đánh số 1 đến số 8: cạnh dài 70 5m; Từ điểm số 1 kéo đến đoạn nét đứt dài 39 17m; Từ điểm 39 17m kéo qua hết đoạn nét đứt dài 70 65m; Từ điểm số 8 đến đoạn nét đứt dài 45 37m) (Kèm theo bản vẽ bổ sung ngày 09-01-2020 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời).

- Buộc ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 hoàn trả cho à Võ Thị U số tiền 109.638.000 đồng (Một trăm lẻ chín triệu, sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).

2. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của à Võ Thị U đối với diện tích còn lại là 2.977 8m2 và ph n đất 1.979m2 (kèm theo 02 căn nhà trên đất).

3. Giữ nguyên ph n đất 2.977 8m2 có các điểm được đánh số: Từ điểm số 02 đến điểm số 07 dài 70 9m; Hướng từ điểm số 02 đến đoạn nét đứt dài 42 05m; cạnh dài đoạn nét đứt dài 70 65m; Từ điểm số 7 đến đoạn nét đứt dài 42 05m (Kèm theo bản vẽ bổ sung ngày 09-01-2020 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Trần Văn Thời).

3.1 Giữ nguyên các căn nhà và đất xây cất trên khuôn viên ph n đất có diện tích đo đạc 1.979m2 cho ông Nguyễn Văn D1 à Trương Thị T1 Nguyễn Kiều P1 Nguyễn Hoài P2 sử dụng gồm: 01 căn nhà xây dựng ằng ê tông cốt thép (nhà chữ L) ngang mặt tiền 6 5m ngang hậu 9 5m dài 11 9m (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 21-2018 ngày 20/4/2018) và 01 căn nhà sau ằng cây gỗ địa phương nối liền (với nhà chữ L nêu trên) diện tích ngang 4,3m, dài 9,45m (Kèm theo biên bản xem xét thẩm định ngày 29/5/2019).

4. Giữ nguyên cho ông Nguyễn Văn D2 quản lý sử dụng ph n đất có diện tích 4.176,6m2 thuộc thửa số 693 có các điểm: Từ điểm số 02 đến số 03 dài 58 7m; Từ điểm số 02 đến số 07 dài 70 9m; Từ điểm số 06 đến điểm số 07 dài 58 7m; Từ điểm số 03 đến điểm số 04 dài 71 3m) (Kèm theo Mảnh trích đo địa chính số 21-2018 ngày 20/4/2018).

Ông Nguyễn Văn D2 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

5. Về chi phí tố tụng: Bà Võ Thị U phải chịu 3.294.500 đồng ( à U đã dự nộp 6.089.000 đồng). Ông D1 phải chịu 3.294.500 đồng (ông D1 đã dự nộp 500.000 đồng). Buộc ông D1 hoàn lại cho à U số tiền 2.794.500 đồng.

Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền đã nêu, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm:

+ Ông D1 à T1 phải chịu tổng số 9.746.500 đồng. Bà U được miễn án phí do ngư i cao tuổi. Ông D2 không phải chịu.

- Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D1 không phải chịu đã dự nộp 300.000 đồng theo iên lai thu số 0002717 ngày 26-9-2019 tại Chi cục thi hành án huyện Tr n Văn Th i được hoàn lại.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ