vanban.org

Bản án 03/2019/TCDS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Nông nghiệp khởi kiện ông Đặng Văn D đòi tiền vay"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/TCDS-ST
Ngày: 10 - 7 - 2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Văn Anh Trình,

2. Ông Nguyễn Xuân Hành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2018/TLST-TCDS, ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST - DSST ngày 22/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank);

Địa chỉ: Số MT Trần Hữu D, khu đô thị M, huyện T, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quang Đ - Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện Q (theo Quyết định số 510/QĐ-HĐTV-PC ngày 19 tháng 6 năm 2014 về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án của chủ tịch hội đồng thành viên Agribank). Ủy quyền lại cho bà Nguyễn Thị Liễu T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện Q, tại văn bản ủy quyền số 367/QĐ-NHNoQN ngày 10 tháng 12 năm 2018.

Địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Văn D, địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Thanh N, địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/12/2018, bản tự khai (Bút lục 01, 44) và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Agribank) - Bà Nguyễn Thị Liễu T trình bày:

Ngày 27/10/2017, anh Đặng Văn D đứng tên vay vốn Agribank - Chi nhánh huyện Q tại Hợp đồng tín dụng số 460/2017/HĐTD, số tiền cho vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), thời hạn cho vay là 36 tháng, kể từ ngày 27/10/2017, lãi suất 10%/năm; phân kỳ trả nợ 05 lần; phương thức trả lãi 06 tháng/kỳ vào ngày 27. Mục đích sử dụng vốn vay: Chi phí sản xuất, kinh danh, đời sống.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ vay, anh Đặng Văn D đã sử dụng tài sản tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 615/2017/HĐTC ngày 27 tháng 10 năm 2017 đã ký giữa Agribank - Chi nhánh huyện Quảng Ninh và anh Đặng Văn D, chị Phạm Thị Thanh N, tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 976573, có diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 4 do UBND huyện Q cấp ngày 28/12/2010 mang tên ông Đặng Văn D và bà Phạm Thị Thanh N.

Sau khi Ngân hàng khởi kiện, ngày 03/4/2019, anh D và chị N đã trả cho Agribank, Chi nhánh huyện Q số tiền gốc 4.914.000 đồng, tiền lãi: 10.273.137 đồng. Từ ngày 04/4/2019 đến nay, anh D không trả gốc và lãi cho Agribank theo thỏa thuận.

Để đảm bảo việc thu hồi nợ vay cho Nhà nước, Agribank - Chi nhánh huyện Q đề nghị Tòa án huyện Quảng Ninh buộc anh Đặng Văn D phải thanh toán cho Agribank - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình tính đến ngày xét xử sơ thẩm số tiền 220.528.875 đồng (Hai trăm hai mươi triệu năm trăm hai tám nghìn tám trăm bảy lăm đồng), trong đó nợ gốc 195.086.000 đồng, nợ lãi là 25.442.875 đồng (nợ lãi trong hạn 24.199.563 đồng; nợ lãi quá hạn 1.243,312 đồng) và số tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký giữa Agribank - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình và anh Đặng Văn D cho đến ngày anh Đặng Văn D trả nợ xong cho Agribank - Chi nhánh huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Trường hợp anh Đặng Văn D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Agribank - Chi nhánh huyện Q đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản để thu hồi nợ vay gồm: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CI 976573, có diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 4 do UBND huyện Q cấp ngày 10/10/2017 mang tên ông Đặng Văn D và bà Phạm Thị Thanh N.

Tại Bản tự khai (BL 51) và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đặng Văn D trình bày: Ngày 27/10/2017, vợ chồng tôi ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q để vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay vốn sản xuất kinh doanh, đời sống; lãi suất vay 10%/năm.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng tôi đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 976573, diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 04, vị trí tại thôn H, xã H được UBND huyện Q cấp ngày 10/10/2017 mang tên Đặng Văn D và Phạm Thị Thanh N, trên thửa đất không có nhà. Do vợ chồng tôi làm ăn thua lỗ, chưa có tiền để trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết. Hiện nay, Ngân hàng khởi kiện, tôi đề nghị Tòa án, Ngân hàng giảm lãi, tạo điều kiện cho tôi thời gian để làm ăn trả nợ. Nếu Ngân hàng không chấp nhận, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 08/01/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Thanh N trình bày: Ngày 27/10/2017, vợ chồng tôi ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Q để vay số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay vốn sản xuất kinh doanh, đời sống; lãi suất vay 10%/năm.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, vợ chồng tôi đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỡ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 976573, diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 04, vị trí tại thôn H, xã H được UBND huyện Q cấp ngày 10/10/2017 mang tên Đặng Văn D và Phạm Thị Thanh N, trên thửa đất không có nhà. Do vợ chồng tôi làm ăn thua lỗ, chưa có tiền để trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết. Hiện nay, Ngân hàng khởi kiện, tôi đề nghị Tòa án, cho vợ chồng tôi thêm thời gian để vay mượn hoặc bán tài sản trả tiền cho Ngân hàng trong thời gian sớm nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng, do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phát sinh tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh theo quy định tại Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại các Điều 51, 54, 208, 209, 210 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án xác định đúng người tham gia tố tụng. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định. Các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng quy định tại các Điều từ 213 đến điều 233 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung, rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Đặng Văn D thanh toán cho Agribank chi nhánh huyện Q số tiền nợ gốc còn lại là 195.086.000 đồng và nợ lãi phát sinh cho đến ngày xét xử theo quy định của pháp luật là 25.442.875 đồng. Kể từ khi Ngân hàng yêu cầu thi hành án mà ông Đặng Văn D không trả hết số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì số tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp được công chứng được xử lý để đảm bảo nghĩa vụ thi hành cho Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện bị đơn anh Đặng Văn D yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Quảng Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Bị đơn anh Đặng Văn D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Dũng, chị Nga.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét theo nội dung hợp đồng tín dụng vay tiền, yêu cầu trả nợ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): Ngày 27 tháng 10 năm 2017, anh Đặng Văn D đã ký Hợp đồng tín dụng với Agribank - Chi nhánh huyện Q để vay số tiền 200.000.000 đồng, mục đích sản xuất, kinh doanh, đời sống. Đến kỳ hạn trả nợ nhưng anh D không trả, ngày 03/4/2019, anh D và chị N đã trả cho Agribank, Chi nhánh huyện Q số tiền gốc 4.914.000 đồng, tiền lãi: 10.273.137 đồng. Sau đó, anh D không trả gốc và lãi, Agribank – Chi nhánh huyện Q đã nhiều lần thông báo nợ quá hạn, vi phạm hợp đồng, xử lý tài sản đảm bảo, đôn đốc, kiểm tra, yêu cầu anh D trả nợ, anh D vẫn không trả. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm anh Đặng Văn D còn nợ Agribank - Chi nhánh huyện Q tổng số tiền 220.528.875 đồng (Hai trăm hai mươi triệu năm trăm hai tám nghìn tám trăm bảy lăm đồng), trong đó nợ gốc 195.086.000 đồng, nợ lãi là 25.442.875 đồng (nợ lãi trong hạn 24.199.563 đồng; nợ lãi quá hạn 1.243.312 đồng).

Xét hợp đồng vay vốn giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên phát sinh hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Nhưng vì bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn là có căn cứ theo quy định tại các điều 463, 466 của Bộ luật dân sự và theo thỏa thuận Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số 460/2017/HĐTD.

Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 460/2017/HĐTD ngày 27/10/2017 mà hai bên đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất của hợp đồng vay 10%/năm. Thỏa thuận lãi suất này không vượt quá và đúng quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết. Hội đồng xét thấy rằng, sau khi vay tiền cho đến ngày khởi kiện anh D chưa trả nợ gốc, lãi cho Agribank – Chi nhánh huyện Quảng Ninh là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Sau kỳ hạn trả nợ cuối cùng, anh D không thanh toán nợ cho Agribank nên Agribank chuyển thành nợ quá hạn và tính lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Đến ngày 03/4/2019, anh Dũng mới trả được một phần nợ gốc, lãi cho Agribank – Chi nhánh huyện Q. Như vậy, yêu cầu của Nguyên đơn về tiền lãi là có căn cứ nên cần được xem xét chấp nhận, buộc anh D phải trả cho Agribank - Chi nhánh huyện Q số tiền lãi là 25.442.875 đồng, trong đó nợ lãi trong hạn 24.199.563 đồng, nợ lãi quá hạn 1.243.312 đồng.

Về yêu cầu của Agribank trong trường hợp anh Đặng Văn D không trả được số nợ trên thì đề nghị Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, khi vay tiền để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng vay vốn, giữa Agribank với anh D, chị Phạm Thị Thanh N có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 615/2017/HĐTC ngày 27/10/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CI 976573, diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 04, vị trí tại thôn H, xã H được UBND huyện Q cấp ngày 10/10/2017 mang tên Đặng Văn D và Phạm Thị Thanh N.

Căn cứ vào các điều 318, 319 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 7 của Hợp đồng tín dụng số 460/2017/HĐTD ngày 27/10/2017; Điều 5 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 615/2017/HĐTC ngày 27/10/2017, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Agribank.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị định 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc anh D phải nộp 11.026.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 318, 319, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và được công bố theo Quyết định 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Buộc anh Đặng Văn D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 220.528.875 đồng (Hai trăm hai mươi triệu năm trăm hai tám nghìn tám trăm bảy lăm đồng), trong đó nợ gốc 195.086.000 đồng, nợ lãi là 25.442.875 đồng (nợ lãi trong hạn 24.199.563 đồng; nợ lãi quá hạn 1.243,312 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trong trường hợp anh Đặng Văn D không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 615/2017/HĐTC ngày 27/10/2017, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CI 976573, diện tích 220m2, thuộc thửa đất số 541, tờ bản đồ số 04, vị trí tại thôn H, xã H được UBND huyện Q cấp ngày 10/10/2017 mang tên Đặng Văn D và Phạm Thị Thanh N.

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Đặng Văn D phải nộp 11.026.000 đồng (Mười một triệu không trăm hai sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam được nhận lại 5.300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004677 ngày 21/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ