- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 03/2019/HS-ST Ngày:17/01/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M,TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tám.
- Bà Nguyễn Thị Hơn.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Minh Chánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch – Kiểm sát viên .
Ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo :
Bị cáo: Nguyễn Hồng L (Phấn); sinh năm 1983, tại tỉnh Tiền Giang.
- Nơi cư trú: đường L, Phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.
- Nghề nghiệp: Làm thuê
- Trình độ học vấn: 6/12.
- Cha: Trần Văn H, sinh năm 1959 (đã chết).
- Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961.
- Anh, em ruột có 04 người, bị can là con thứ ba trong gia đình.
- Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/6/2018, tạm giam từ ngày 19/6/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan: Nguyễn Hồng S, sinh 1980(có mặt).
Nơi cư trú: đường L, phường H, thành phố M, Tiền Giang.
2.2. Người làm chứng: Nguyễn Thị Bích T, sinh 1982 (vắng mặt).
Nơi cư trú: đường G, phường S, thành phố M,Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 09/6/2018, tại khu vực đường Phạm Hùng, Ấp 2, xã A, thành phố M; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố M phối hợp Công an xã A, thành phố M bắt quả tang bị cáo Nguyễn Hồng L tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi quần Jean bên trái phía trước L đang mặc trên người.
Vật chứng, tài sản có liên quan bị thu giữ gồm:
- Năm gói nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng, được cho vào gói niêm phong dạng phong bì có chữ ký của Nguyễn Hồng L và dấu mộc đỏ của Công an xã A, thành phố M.
- Một điện thoại di động hiệu Zip 82, có sim Vina.
- Một xe môtô biển số 62AC-001.06.
- Một giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 62AC-001.06
Căn cứ kết luận giám định số 109/KLGĐ-PC54 ngày 12/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 05 gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một bì thư được nêm phong có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hồng L và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: CÔNG AN XÃ A – CÔNG AN THÀNH PHỐ M – TỈNH TIỀN GIANG gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6534 gam loại Methamphetamine.
Đối với mẫu ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng, tài sản có liên quan, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M chờ xử lý.
Bị cáo Nguyễn Hồng L khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 09/6/2018, L điều khiển xe môtô biển số 62AC-001.26 đến khu vực cầu vượt Quang Trung, Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh nhờ người chạy xe honda khách lạ mặt mua dùm 01 gói ma túy giá 1.000.000 đồng để sử dụng, L cho người này 100.000 đồng tiền công. L đem gói ma túy về Khách sạn “Ngọc Hoa Mỹ 2” địa chỉ xã A, thành phố M sử dụng một ít, số còn lại phân ra 05 gói (01 gói lớn và 04 gói nhỏ) để trong túi quần Jean bên trái phía trước và điều khiển xe mô tô đến đường Phạm Hùng, Ấp 2, xã A, thành phố M thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Đối với người đàn ông mua ma túy dùm L, do L không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được, hiện tiếp tục điều tra làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-HS ngày 03/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hồng L về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hồng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Hồng L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án và bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu huỷ ma túy còn lại sau giám định: 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 109 ngày 12/06/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký ghi họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh Trường, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều Linh, bên nhận Nguyễn Hồng Quân và và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG;
- Trả lại cho bị cáo: Một điện thoại di động hiệu Zip 82, có sim Vinaphone.
- Trả lại cho Nguyễn Hồng S: Một xe môtô biển số 62AC-001.06 và một giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 62AC-001.06 .
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Hồng L đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 09/6/2018, trên đường Phạm Hùng, Ấp 2, xã A, Tp. M, Tiền Giang; Nguyễn Hồng L bị bắt quả tang tàng trữ trái phép 0,6534 gam ma túy (Methamphetamine) nên bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự .
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẻ ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, nó là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm suy đồi giá trị đạo đức truyền thống, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh thiếu niên, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội, nó còn là tác nhân lây lan căn bệnh HIV/AIDS. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây mất trật trự trị an tại địa phương nơi bị cáo thực hiện tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống người dân. Vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để đấu tranh, phòng chống thảm họa của ma túy đồng thời đặt ra các chế tài nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để trừng trị các loại tội phạm về ma túy trong đó có tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo nhận thức được việc “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật, gây tác hại xấu cho xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, hành động này luôn bị xã hội lên án. Vì vậy, cần xử lý bị cáo mức án thật nghiêm khắc để tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt sống có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.
Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Hồng L tỏ thái độ thành khẩn khai báo và bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo;
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ ma túy còn lại sau giám định: 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 109 ngày 12/06/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký ghi họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh Trường, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều Linh, bên nhận Nguyễn Hồng Quân và và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG;
- Trả lại cho bị cáo: Một điện thoại di động hiệu Zip 82, có sim Vinaphone.
- Trả lại cho Nguyễn Hồng Sơn: Một xe môtô biển số 62AC-001.06 và một giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 62AC-001.06.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng L 01(Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 09/6/2018.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ ma túy còn lại sau giám định: 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 109 ngày 12/06/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, có chữ ký ghi họ tên bên giao của giám định viên Nguyễn Thanh Trường, trợ lý giám định Nguyễn Thị Kiều Linh, bên nhận Nguyễn Hồng Quân và và hình dấu tròn màu đỏ in chữ: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG;
- Trả lại cho bị cáo: Một điện thoại di động hiệu Zip 82, màu trắng - đen, có sim Vinaphone, đã qua sử dụng, máy không lên nguồn, không kiểm tra tình trạng bên trong;
- Trả lại cho Nguyễn Hồng Sơn: Một xe môtô biển số 62AC-001.06, màu trắng - đen, xe không nổ máy, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và một giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 62AC-001.06.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố M, Tiền Giang).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Bị cáo Nguyễn Hồng L phải chịu là 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Hồng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| * Nơi nhận: - TAND Tỉnh TG; - VKSND Tỉnh TG; - VKSND. TPMT; - Chi cục THADS.TPMT; - Nhà tạm giữ CA.TPMT; - Người tham gia TT; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phong |