vanban.org

Bản án 03/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Tân T phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tân T 20.000.000đ(Hai mươi triệu đồng). Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Tân T phạm tội Dánh Bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Tân T phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HSST
Ngày: 17 - 05 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tài Tính.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hồng Sơn

2/ Bà Đinh Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương - Cán bộ Tòa án nhân dân

huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tham gia phiên tòa:

Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 05 năm 2019, tại Hội trường của Tòa án nhân dân huyện

Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:

03/2019/ HSST ngày 18 tháng 03 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét

xử số 13/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tân T (tên gọi khác: không). Sinh ngày 25 tháng 3 năm

1970, tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: thôn An H, xã Nghĩa T, huyện Tư Nghĩa,

tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn lớp: 09/12; Dân

tộc: Kinh; Con ông: Tân Q và bà Trần Thị H; Vợ: Phan Thị Kim T1.Con: có

03 con, lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm: 2004. Tiền sự; Tiền án:

không. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa ra lệnh cấm đi

khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Tân T vào ngày 19/12/2018.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thu K(vắng mặt)

2. Ông Nguyễn H(có đơn xin xét xử vắng mặ)

3. Ông Nguyễn H1(có đơn xin xét xử vắng mặt)

4. Ông Bùi Tá Đ(có đơn xin xét xử vắng mặt)

5. Ông Tân Ta(có đơn xin xét xử vắng mặt)

6. Ông Tân Th(có đơn xin xét xử vắng mặt).

7. Ông Nguyễn Phỉ Ti(có đơn xin xét xử vắng mặt)

8. Ông Huỳnh S(vắng mặt).

Cùng địa chỉ: thôn An Hà 3, xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa, tỉnh

Quảng Ngãi.

9. Ông Phan Tấn T3(có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Phú Văn, xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng

Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 00 phút, ngày 13/12/2018, Tân T làm nghề buôn bán hàng tạp hóa ở thôn An H, xã Nghĩa T, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đang đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thắng, thua bằng tiền tại nhà. Trong số những người đã mua số đề của Tân T có bà Nguyễn Thị Thu K, ông Nguyễn H và ông Nguyễn H1, vừa mới mua số đề xong và đang ở tại nhà Tân T. Tổng số tiền đánh bạc của bà Nguyễn Thị Thu K là 446.000đ (bốn trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc của ông Nguyễn H là 69.000đ (sáu mươi chín nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc của ông Nguyễn H1 là 378.000đ (ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng).

Tang vật thu giữ gồm:

- Tiền Việt Nam 3.350.000đ (ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ tại bàn ghi số đề.

- 02 (hai) tờ tịch ghi số đề trong ngày 13/12/2018 của Tân T; 01 (một) máy tính tay Casio, model: M-28, màu đen; 02 (hai) cây bút bi và 04 (bốn) tờ lịch treo tường dùng để ghi số đề của Tân T.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia, màu đen, IMEI: 353660063753382; 01 (một) cuốn sổ ghi tịch đề của các ngày trước ngày 13/12/2018 của Tân T.

- 01 (một) tờ tịch ghi số đề trong ngày 13/12/2018 của Nguyễn H; 01 (một) điện thoại di động OPPO, IMEI: 863008038839030, màu đen và số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) của Nguyễn H.

- 01 (một) tờ tịch ghi số đề trong ngày 13/12/2018 của Nguyễn Thị Thu K; 01 (một) điện thoại di động Iphone 6, màu vàng, IMEI: 359238061002013 của Nguyễn Thị Thu K.

- 01 (một) tờ tịch ghi số đề trong ngày 13/12/2018 của Nguyễn H1; 01 (một) điện thoại di động Sam sung J5, màu bạc, IMEI: 354001080230394 và số tiền 70.000đ (bảy mươi ngàn đồng) của Nguyễn H1.

Quá trình điều tra xác định Tân Trực ngoài việc bán số đề cho Nguyễn Thị Thu K, Nguyễn H và Nguyễn H1 vào ngày 13/12/2018, Tân T còn bán số đề cho người khác bằng cách bán trực tiếp tại nhà và bán qua việc nghe điện thoại, nhận tin nhắn đến số điện thoại di động của Tân T là 0382800554. Qua đó, xác định: Bùi Tá Đ, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 2.880.000đ (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); Tân Tr, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng); Phan Tấn L, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).

Tân T sử dụng kết quả xổ số Tây Ninh và kết quả xổ số Quảng Trị làm căn cứ đối chiếu trúng đề vào ngày 13/12/2018. Tại thời điểm bắt đã có kết quả xổ số Tây Ninh (đã đối chiếu nhưng không trúng đề) và chưa có kết quả xổ số Quảng Trị. Tổng số tiền đánh bạc của Tân T tại thời điểm bắt là 5.841.000đ (năm triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

Ngoài hành vi đánh bạc vào ngày 13/12/2018, Tân T còn thực hiện hành vi đánh bạc với người khác bằng hình thức ghi số đề thắng, thua bằng tiền.

Cụ thể xác như sau:

1. Vào ngày 05/12/2018, không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Khánh Hòa và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc (ghi đề)1.494.000đ, Số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 220.000đ. Tổng số tiền đánh bạc (kể cả số tiền trúng đề) của Tân T là 1.714.000đ (1.494.000đ + 220.000đ). Do đó, số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 1.274.000đ (1.494.000đ - 220.000đ).

2. Vào ngày 06/12/2018, không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Quảng Trị, kết quả xổ số Tây Ninh và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 994.000đ, số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 430.000đ (bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Tổng số đánh bạc (kể cả số tiền trúng đề) của Tân T là 1.424.000đ (994.000đ+430.000đ). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là: 564.000đ (994.000đ – 430.000đ).

3. Vào ngày 07/12/2018, xác định Phan Tấn T3 và Tân Tr đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Gia Lai, kết quả xổ số Bình Dương và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc của Phan Tấn T3 là 2.200.000đ (hai triệu hai trăm nghìn đồng); Tân Tr là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 3.205.500đ, số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Tân T (kể cả số tiền trúng đề) là 3.315.500đ(3.205.500đ + 110.000đ). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 3.095.500đ (3.205.500đ – 110.000đ).

4. Vào ngày 08/12/2018, xác định Tân Th, Tân Tr và Nguyễn Phỉ Ti đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Quảng Ngãi, kết quả xổ số thành phố Hồ Chí Minh và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc của Tân Th là 660.000đ (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng); Tân Tr là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng); Nguyễn Phỉ T3 là 1.660.000đ (một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 2.979.000đ, số tiền trúng đề Tân T trả cho người khác là 285.000đ (hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc (kể cả số tiền trúng đề) của Tân T là 3.264.000đ (2.979.000đ + 285.000đ). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 2.694.000đ(2.979.000đ – 285.000đ.

5. Vào ngày 09/12/2018, xác định Nguyễn Phỉ T3, Huỳnh S, Phan Tấn Ti và Tân Th đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Kon Tum và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Phỉ T3 là 2.000.000đ (hai triệu đồng); Huỳnh S là 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng); Phan Tấn Ti là 670.000đ (sáu trăm bảy mươi nghìn đồng); Tân Th là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 4.836.500đ (bốn triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Không có tiền trúng đề. Nên số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 4.836.500đ (bốn triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

6. Vào ngày 10/12/2018, xác định Huỳnh S, Tân Th, Phan Tấn Ti và Tân Tr đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Phú Yên, kết quả xổ số thành phố Hồ Chí Minh và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh S là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) Tân Th là 502.000đ (năm trăm lẻ hai nghìn đồng); Phan Tấn Ti là 2.710.000đ (hai triệu bảy trăm mười nghìn đồng); Tân Tr là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 4.631.000đ(Bốn triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng), Số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Tân T (kể cả số tiền trúng đề)là 4.671.000đ (4.631.000đ + 40.000đ). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 4.591.500đ (4.631.000đ – 40.000đ).

7. Vào ngày 11/12/2018, xác định Huỳnh S, Phan Tấn Ti, Tân Tr, Tân Thu và Phan Tấn L đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Đăk Lăk và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề.

Tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh S là 4.000.000đ (bốn triệu đồng); Phan Tấn Ti là 4.360.000đ (bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng); Tân Tr là 360.000đ (ba trăm sáu mươi nghìn đồng); Tân Thu là 360.000đ (ba trăm sáu mươi nghìn đồng); Phan Tấn L là 510.000đ (năm trăm mười nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 10.006.000đ, Số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Tân T (kể cả số tiền trúng đề) của Tân T là 10.081.000đ (10.006.000đ + 75.000đ) (mười triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 9.931.000đ(10.006.000đ – 75.000đ).

8. Vào ngày 12/12/2018, xác định Huỳnh S, Nguyễn Phỉ T3 và Tân Tr đã mua số đề bằng cách sử dụng điện thoại di động nhắn tin điện thoại cho Tân T, còn lại không xác định được những người đã đánh bạc với Tân T. Tân T sử dụng kết quả xổ số Khánh Hòa, kết quả xổ số Đồng Nai và kết quả xổ số miền Bắc làm căn cứ đối chiếu trúng đề .

Tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh S là 900.000đ (chín trăm nghìn đồng); Nguyễn Phỉ T3 là 3.150.000đ (ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Tân Tr là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền ghi đề của Tân T là 4.718.500đ, Số tiền trúng đề Tân T đã trả cho người khác là 215.000đ (hai trăm mười lăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Tân T (kể cả số tiền trúng đề) 4.933.500đ(4.718.500đ + 215.000đ). Số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 4.503.500đ (4.718.500đ – 215.000đ).

Quá trình chơi số đề, tỷ lệ trúng đề như sau:

- Trường hợp mua số đề bằng hình thức đầu đuôi mà số đề đã mua đầu trùng với số giải tám trong kết quả xổ số các tỉnh miền Nam, miền Trung hoặc số đề đã mua đuôi trùng với 02 (hai) số cuối của số đặc biệt trong kết quả xổ số các tỉnh miền Nam, miền Trung, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 70 (bảy mươi) lần số tiền cược. Tương tự, số đề đã mua đầu trùng với một trong các số của số giải bảy trong kết quả xổ số miền Bắc hoặc số đề đã mua đuôi trùng với 02 (hai) số cuối của số đặc biệt trong kết quả xổ số miền Bắc, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 80 (tám mươi) lần số tiền cược.

- Trường hợp mua số đề bằng hình thức bao lô số đề loại 02 (hai) số mà số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số các tỉnh miền Nam, miền Trung, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 70 (bảy mươi) lần số tiền cược đối với một lần trùng. Tương tự, số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số miền Bắc, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 80 (tám mươi) lần số tiền cược đối với một lần trùng.

- Trường hợp mua số đề bằng hình thức bao lô số đề loại 03 (ba) số mà số đề đã mua trùng với 03 (ba) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số các tỉnh miền Nam, miền Trung, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 500 (năm trăm) lần số tiền cược đối với một lần trùng. Tương tự, số đề đã mua trùng với 03 (ba) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số miền Bắc, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 600(sáu trăm) lần số tiền cược đối với một lần trúng.

- Trường hợp mua số đề bằng hình thức xiên lô với số đề loại 02 (hai) số mà cả hai số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số các tỉnh miền Nam, miền Trung, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 500 (năm trăm) lần số tiền cược đối với một lần cùng trùng. Tương tự, cả hai số đề đã mua trùng với 02 (hai) số cuối của một trong các số trong kết quả xổ số miền Bắc, thì tỷ lệ tiền trúng được nhận là gấp 600 (sáu trăm) lần số tiền cược đối với một lần cùng trúng.

Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKSTN- HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Tân T về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tân T hình phạt tiền từ 20.000.000đ – 30.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng đã thu giữ được theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Tân T khai nhận toàn tộ hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 13/12/2018, Tân T đánh bạc dưới hình thức ghi số đề thắng, thua bằng tiền tại nhà. Trong số những người đã mua số đề của Tân T có bà Nguyễn Thị Thu K, ông Nguyễn H và ông Nguyễn H1, vừa mới mua số đề xong và đang ở tại nhà Tân T. Tổng số tiền đánh bạc của bà Nguyễn Thị Thu K là 446.000đ (bốn trăm bốn mươi sáu nghìn đồng)(hình thức đánh đầu đuôi với số tiền 230.000đ, bao lô với số tiền 216.000đ), tổng số tiền đánh bạc của ông Nguyễn H là 69.000đ (sáu mươi chín nghìn đồng)(hình thức ghi đầu đuôi), tổng số tiền đánh bạc của ông Nguyễn H1 là 378.000đ (ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng)(với hình thức bao lô).

Quá trình điều tra xác định Tân T ngoài việc bán số đề cho Nguyễn Thị Thu K, Nguyễn H và Nguyễn H1 vào ngày 13/12/2018, Tân T còn bán số đề cho người khác bằng cách bán trực tiếp tại nhà và bán qua việc nghe điện thoại, nhận tin nhắn đến số điện thoại di động của Tân T là 0382800554. Qua đó, xác định: Bùi Tá Đ, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 2.880.000đ (hai triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); Tân Tr, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng); Phan Tấn L, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Còn lại số tiền 1.088.000đ(Một triệu không trăm tám mươi tám ngàn đồng) là số tiền Tân T ghi số đề cho người đánh đề qua điện thoại và số tiền đánh đề ghi trên tịch đề nhưng Tân T không xác định được họ tên địa chỉ của những người chơi đề. Tổng số tiền Tân T đánh bạc trong ngày 13/12/2018 là 5.841.000đ(Năm triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn đồng).

Từ ngày 05/12/2018 đến ngày 13/12/2018 tổng số tiền bị cáo ghi đề là 38.706.000đồng; tiền trúng đề bị cáo T chung trả cho người khác là 1.375.000đ. Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo T là 40.081.000đ(Bốn mươi triệu không trăm tám mươi mốt ngàn đồng) bao gồm trả tiền trúng đề. Số tiền bị cáo T thu lợi bất chính là 37.331.000đ (38.706.000đ -1.375.000đ) . Nhưng ông Bùi Tá Đ chưa trả tiền ghi số đề cho Tân T là 2.880.000đ và ông Nguyễn H cũng chưa trả cho bị cáo T là 69.000đ. Ở giai đoạn điều tra vào ngày 21/12/2018 ông Bùi Tá Đ tự nguyện nộp số tiền 2.880.000đ(Hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng) và Nguyễn H tự nguyện nộp số tiền 69.000đ tại Ngân hàng Nông nghiệp huyện Tư Nghĩa để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Như vậy, xác định số tiền thu lợi bất chính của Tân T là 34.382.000đ (37.331.000đ – 2.949.000đ) (Ba mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai ngàn đồng), tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về lỗi của bị cáo: Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền(với hình thức ghi số đề) với các đối tượng mua đề là vi phạm pháp luật nhưng do ham lợi bất chính nên bị cáo đã dùng nhà ở của mình cùng với phương tiện thông tin như điện thoại di động để phục vụ cho việc đánh bạc cùng với những người chơi đề, theo một quy ước chung dựa vào kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết các tỉnh miền Nam, miền Trung, miền Bắc để đánh bạc dưới hình thức số đề thắng thua bằng tiền. Hàng ngày bị cáo ghi (bán) số đề cho những người ham mê cờ bạc để thu lợi bất chính. Số tiền bị cáo ghi trên tịch đề kể cả tiền trúng ngày 11/12/2018 là 10.081.000đ (Mười triệu không trăm tám mươi mốt ngàn đồng) và ngày 13/12/2018 là 5.841.000đ (Năm triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo T thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội“ Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Về tính chất vụ án: Là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguyên nhân có thể phát sinh ra các loại tội phạm khác trong xã hội, gây mất trật tự trị an địa phương nói riêng và trên toàn huyện nói chung. Vì vậy, cần được đưa ra xét xử nghiêm minh, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần vào ngày 11/12/2018 với số tiền 10.081.000đ và ngày 13/12/2018 với số tiền là 5.841.000đ nên áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

.Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt chính bằng tiền từ 20.000.000đ – 30.000.000đ nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

. Đối với Bà Nguyễn Thị Thu K, Ông Nguyễn H, Ông Nguyễn H1, Ông Bùi Tá Đ, Ông Tân Tr, Ông Tân Thu, Ông Nguyễn Phỉ T3, Ông Huỳnh S, Ông Phan Tấn Ti là các đối tượng có hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức ghi số lô, số đề nhưng số tiền từng đối tượng dùng vào đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Bản thân chưa có tiền án tiền sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa đã xử phạt hành chính là phù hợp.

. Đối với ông Nguyễn H và ông Bùi Tá Đ đánh số đề nhưng chưa đưa tiền cho bị cáo T. Ông H đã nộp số tiền 69.000đ và ông Đ đã nộp 2.880.000đ ngày 21/12/2018 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Tư Nghĩa để sung vào Ngân sách nhà nước. Ông Đ và ông H đã nộp xong số tiền trên.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(Một) máy tính tay Casio, model; M -28, màu đen của Tân T; 02(hai) cây bút bi của Tân T; 01(Một) bì thư được gián kín, có chữ ký, họ tên của Nguyễn Phương Đ và đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi(Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định lập hồi 13 giờ 45 phút ngày 04/1/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi ghi bì thư chứa: 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen. Model; 206(RM-872), số IMEI 1: 353660063753382, IMEI 2: 353660063753390, bên trong thân máy có gắn 02(hai) thẻ sim có số seri 89840488410015741001574570 và 89840200021592504937 theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa ngày 18 tháng 3 năm 2019.

Số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có của bị cáo Tân T là 34.382.000đ(Ba mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai ngàn đồng). Buộc bị cáo phải giao nộp để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 26.350.000đ (Hai mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) mà bị cáo T tự nguyện giao nộp theo các biên lai cụ thể: biên lai thu số 00526 ngày 15/3/2019, số tiền 15.000.000đ(Mười lăm triệu đồng), biên lai thu số 00527 ngày 18/3/2019 số tiền 3.350.000đ(Ba triệu năm trăm ngàn đồng) và biên lai thu số 00535 ngày 07/5/2019 số tiền 8.000.000đ(Tám triệu đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa tỉnh Quảng Ngãi, để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí buộc bị cáo Tân T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 khoản 1 Điều 35; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Tân T phạm tội "Đánh bạc".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tân T 20.000.000đ(Hai mươi triệu đồng).

3. Về vật chứng:

- Tịch tiêu hủy gồm; 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen. Model; 206(RM-872),số IMEI 1: 353660063753382, IMEI 2: 353660063753390, bên trong thân máy có gắn 02(hai) thẻ sim có số seri 89840488410015741001574570 và 89840200021592504937 và 01(Một) máy tính tay Casio, model; M -28, màu đen và 02(hai) cây bút bi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa ngày 18 tháng 3 năm 2019.

- Buộc bị cáo Tân T giao nộp số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có là 34.382.000đ(Ba mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai ngàn đồng) để nộp vào Ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 26.350.000đ (Hai mươi sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn) mà bị cáo Trực tự nguyện giao nộp theo các biên lai thu số 00526 ngày 15/3/2019, số tiền 15.000.000đ(Mười lăm triệu đồng), biên lai thu số 00527 ngày 18/3/2019 số tiền 3.350.000đ(Ba triệu ba trăm năm mươi đồng) và biên lai thu số 00535 ngày 07/5/2019 số tiền 8.000.000đ(Tám triệu đồng) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Tân T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ