- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2019/HS-ST Ngày: 23/01/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Huân và ông Nguyễn Khắc Hải.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Thế Hồng.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn- Kiểm sát viên.
Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại trú sở Toà án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/HSST, ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06/5/1991; Nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) con bà Trần Thị N; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2018 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Phùng Quang H1; sinh năm 1976. Địa chỉ: Số 02, ngỏ 163, tổ 11, phường L, quận L1, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn H đi làm thuê tại Cửa khẩu Quốc tế C thuộc địa phận xã S, huyện H thì phát hiện dưới bãi cỏ gần khu vực nhà kiểm dịch có 05 bánh hình chữ nhật. H biết đó là ma túy nên mang đi cất giấu. Sau đó H về nhà lên mạng Internet thấy có số điện thoại của một người tên T1 đang cần mua cần sa nên H ghi số điện thoại để liên lạc. Thời gian sau H đưa số cần sa nói trên về nhà để cất dấu mà không cho ai biết. Trong 05 bánh cần sa có 01 bánh bị ướt nên H đã tách lấy ra một phần cất dấu riêng tại nhà. Sau đó H liên lạc với T1, giới thiệu tên là ở thành phố V, nhưng không nói địa chỉ cụ thể. H và T1 trao đổi mua bán số cần sa nói trên với giá 5.000.000 đồng một bánh, T1 đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 23/10/2018, T1 gọi điện cho H hẹn đưa 04 bánh cần sa đến phòng 203, khách sạn T thuộc thôn H, xã S1, huyện H để T1 mua, H đồng ý. H bỏ 04 bánh cần sa vào trong 01 bì xác rắn và 01 phần của bánh cần sa bỏ vào trong cốp xe máy nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 38H8- 48 rồi điều khiển xe mang cần sa đi đến khách sạn T để bán. Trước khi đi để tránh bị phát hiện của cơ quan chức năng H đã xóa toàn bộ số điện thoại liên lạc với T1 trong điện thoại của mình. Khi đến khách sạn T thì Nguyễn Văn H đã bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ số cần sa nói trên.
Tại bản thông báo kết quả giám định số:114/GĐMT-PC09, ngày 25/10/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Thực vật khô màu nâu trong mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 01 kg, là cần sa; Thực vật khô màu nâu trong mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,06 kg, là cần sa; Thực vật khô màu nâu trong mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,03 kg, là cần sa; Thực vật khô màu nâu trong mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 1,02 kg, là cần sa; Thực vật khô màu nâu trong mẫu M5 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4 kg, là cần sa (thu dưới cốp xe của Nguyễn Văn Hưng); Thực vật khô màu nâu trong mẫu M6 gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,17 kg, là cần sa (thu tại chổ ở của Nguyễn Văn H). Tổng khối lượng là: 4,68 kg cần sa.
Vật chứng vụ án: Gồm 4,68 kg cần sa, sau khi trừ mẫu giám định còn lại 4,62 kg được bỏ vào một hộp bìa các tông vỏ thùng bia Huda hình hộp chữ nhật màu xanh dán kín các mép, kích thước 40cm x 17cm x 12cm, trên các mép có dán các dãi niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng; 01 bì xác rắn màu trắng - xanh, kích thước 85 cm x 52 cm; 01 biển số 38H - 48 là biển số giả đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
* Chiếc xe máy nhãn YAMAHA đeo biển kiểm soát 38H - 48 thu giữ của Nguyễn Văn H, H khai nhận mua của một người không quen biết vào năm 2002 tại khi vực N, xã S2 với giá 10.300.000 đồng. Khi mua xe không có giấy tờ, H không biết nguồn gốc xe này. Quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định được chiếc xe này là của Phùng Quang H1, sinh năm: 1976, trú tại: Số 02, ngỏ 163, phố T, tổ 11, phường L, quận L1, thành phố Hà Nội bị mất vào tháng 8 năm 2008. Hiện cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy này cho anh H1.
Tại bản cáo trạng số: 02/CT-VKS-HS, ngày 11/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và để nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để xử lý các vật chứng nói trên.
Bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở khẳng định Nguyễn Văn H cất dấu ở nhà mình 0,17 kg cần sa nhằm mục đích bán kiếm lời và mang 4,51 kg cần sa đến khách sạn T, thôn H, xã S1, huyện H để bán kiếm lời đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015. Việc truy tố và xét xử theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý. Cần sa là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT45, Nghị định 73 ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ. Khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của nòi giống con người, nhưng vì hám lợi bị cáo bất chấp pháp luật vẫn thực hiện hành vi của mình. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Còn về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, thuộc diện hộ cận nghèo nên cần áp dụng điểm s khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: 4,62kg cần sa được bỏ vào một hộp bìa các tông vỏ thùng bia Huda hình hộp chữ nhật màu xanh dán kín các mép, kích thước 40cm x 17cm x 12cm, trên các mép có dán các dãi niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng; 01 bì xác rắn màu trắng xanh kích thước 85 cm x 52 cm; 01 biển số 38H - 48 xác định là biển số giả là các vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 để tịch thu nộp ngân sách nhà và tich thu tiêu hủy. Còn 01 chiếc xe máy nhãn YAMAHA đeo biển kiểm soát 38H-48 thu giữ của Nguyễn Văn H là tài sản thuộc quyền sở hửu của anh Phùng Quang H1, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy này cho chủ sở hữu anh Phùng Quang H1, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 23/10/2018).
- Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 4,62 kg cần sa được bỏ vào một hộp bìa các tông vỏ thùng bia Huda hình hộp chữ nhật màu xanh dán kín các mép, kích thước 40cm x 17cm x 12cm, trên các mép có dán các dãi niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 bì xác rắn màu trắng xanh kích thước 85cm x 52cm; 01 biển số 38H – 48.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.
Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2018.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/01/2019); anh Phùng Quang H1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh - VKSND huyện H; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Công an huyện H; - Cơ quan THHS Công an H; - Công an tỉnh (phòng PV 27); - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - UBND xã S; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Cường |