vanban.org

Bản án 03/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 22/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Trường A 20 (hai mươi) năm tù.Thời hạn tù được tính từ ngày 26.6.2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Trường A cùng đồng bọn mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS-ST
Ngày 22 – 02 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Tuấn Đức

Ông Trần Minh Thuận

Bà Nguyễn Thu Ah

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Vũ Phong là Thư ký Toà án của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Ông Trần Quốc Tới - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2018/TLST - HS ngày 04 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/HSST – QĐ ngày 23 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Trường A, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 692/21/17, đường Đoàn B, phường 16, quận 4, thành phố H. Nơi cư trú: Khóm 5, phường H, thị x, tỉnh B, ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Tha và bà Bùi Thị Hoàng; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 26/6/2018 cho đến ngày 04/7/2018 chuyển sAg tạm giam đến nay (có mặt);

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Tiến Dũng – Văn phòng luật sư Huỳnh Quốc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau. (có mặt)

2. Họ và tên: Nguyễn Kim C (tên khác: Kim M), sinh năm 1993 tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp T, xã Tạ A Khương N, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: Khóm 5, phường H, thị x, tỉnh B, ; nghề nghiệp: Thêu trAh; trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ngọt và bà Dương Mỹ Phượng; chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 26/6/2018 cho đến ngày 04/7/2018 chuyển sAg tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Đức Tiến – Văn phòng luật sư Trần Đức Tiến thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 20 phút ngày 25/6/2018, lực lượng trinh sát Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau kết hợp với lực lượng Cảnh sát Biển; Cảnh sát giao thông đường bộ và Công an Phường 6 bắt quả tang Phan Trường A đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm:

- 01 bịch ni lon màu trắng bên trong có chứa bốn viên rưỡi loại nén hình tròn màu xanh được thu giữ trong túi quần phía trước bên trái;

- 01 xe mAg biển số kiểm soát 59C1-802.51;

- 02 điện thoại di động (trong đó có 01 điện thoại màu đen hiệu Iphone đã quan sử dụng và 01 điện thoại màu trắng bạc hiệu Iphone đã quan sử dung);

- Tiền Ngân hàng Việt Nam đồng 5.700.000đồng;

Đến 03 giờ ngày 26.6.2018, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Cà Mau, tiến hành khám xét nơi ở của Phan Trường A và Nguyễn Kim C tại Khóm 5, phường H, thị x, tỉnh B, và thu giữ gồm:

- 01 hộp giấy hình chữ nhật, bên trong hộp giấy có 03 bịch nilon màu trắng bên trong mỗi bịch có chứa chất tinh thể trong suốt nghi là ma túy cùng nửa viên nén màu xanh nghi là ma túy (hộp giấy này được thu giữ tại phòng ngủ của A và C);

- 01 hộp màu đen bên trong có chứa 12 bịch nilon, bên trong mỗi bịch nilon có chứa chất tinh thể trong suốt nghi là ma túy được thu giữ tại bên trong cửa buồng phía tay trái từ ngoài đi vào trong nhà của A và C;

- 01 máy ép bọc màu xanh cũ đã quan sử dụng;

- 03 bình thủy tinh tự chế để sử dụng ma túy đá;

- 04 ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá.

- 01 cân tiểu ly điện tử;

- Kiểm tra trong túi xách màu đen do Nguyễn Kim C đang mAg trên người, phát hiện thu giữ bên trong túi xách:

+ 01 bịch nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt nghi là ma túy;

+ 01 điện thoại di động màu đen hiệu Sam sung cũ đã quan sử dụng;

+ Tiền Việt Nam: 64.800.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 292/KLGD-PC54 ngày 28.6.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: Các mẫu viên nén và mẫu tinh thể màu trắng trong các bịch nylon có 474,8835 gam ma túy, loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine, loại không phải ma túy là 62.8351 gam.

Quá trình điều tra, A và C khai nhận: A nhiều lần liên hệ đối tượng tên Quậy ở Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy đem về cùng C chia nhỏ ma túy bán lại cho các đối tượng nghiện. Lần cuối cùng là vào ngày 23/6/2018, A đi xe dịch vụ Phương TrAg lên thành phố Hồ Chí Minh liên hệ gặp Quậy để mua ma túy thông quan số điện thoại 01225897538. A và Quậy hẹn gặp nhau trên đường Đoàn Văn Bơ, Phường 16, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây A mua của Quậy bốn lạng ma túy với số tiền 200.000.000đ, A trả trước cho Quậy 40.000.000đ, còn nợ lại 160.000.000đ, hẹn đến khi về bán hết số ma túy này thì A sẽ trả tiền cho Quậy.

Ngày 24/6/2018, A đem ma túy về nhà nhưng do ma túy bị ẩm nên đổ hết số ma túy vừa mua ra khay nhựa để trước gió máy lạnh tại phòng ngủ phơi. A kêu C đưa cho A 01 bọc nilon, A lấy một phần ma túy đang phơi trên khay nhựa bỏ vào bọc nilon rồi đi bán ma túy cho đối tượng tên Hiền và cùng C đi bán ma túy cho Phạm Văn Được. Sau đó, A đi Bạc Liêu chơi, kêu C ở nhà lấy cây cọ dùng để trAg điểm xào trộn ma túy đang để trong khay nhựa phơi trước gió máy lạnh. Đến khoảng 23 giờ ngày 24/6/2018, C đổ hết ma túy trong khay nhựa vào bọc nilon rồi bỏ dưới bàn hàng ngày C ngồi thêu trAh.

Sáng ngày 25/6/2018, A về nhà lấy bọc ma túy ra phân chia nhỏ, bỏ vào nhiều bọc nilon nhỏ. Chiều tối cùng ngày, A lấy bốn viên rưỡi thuốc lắc đi xuống Cà Mau để chơi và sử dụng thì bị bắt quả tang.

Tính đến thời điểm bị bắt, A đã bán ma túy cho đối tượng tên Được khoảng 7 đến 8 lần, mỗi lần là 1.400.000 đồng; bán ma túy cho đối tượng tên Quốc An khoảng 15 lần, mỗi lần mua ít nhất là 1.000.000 đồng, nhiều nhất là 2.500.000 đồng; bán ma túy cho đối tượng tên Nguyên 8 lần, mỗi lần mua ít nhất là 1.250.000 đồng, nhiều nhất là 5.040.000 đồng; bán ma túy cho đối tượng tên Hiền 03 lần, mỗi lần 25.000.000 đồng. Như vậy, số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy của A từ 109.800.000 đồng đến 164.020.000 đồng. Đối với C khai nhận có nhiều lần giúp A bán ma túy cho các đối tượng nghiện với tổng số tiền là 2.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 52/CT – VKS – P1 ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; đề nghị xử phạt bị cáo Phan Trường A 20 năm tù; Nguyễn Kim C từ 10 đến 12 năm tù

- Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng: các phong bì được niêm phong kín là mẫu vật hoãn trả số 292/M.6, M.7, M.8, M9 ngày 28/6/2018 có đóng hình dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long (là mẫu vật hoàn lại sau giám định khối lượng chất ma túy) có chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Thành Trung và người chứng kiến Trương Minh Giảng; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) máy ép bọc màu xanh; 04 (bốn) ống thủy tinh và 03 (ba) bình thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) mâm bê ca màu trắng, viền xanh, có hình bông và quả táo, ký hiệu VCP/C15.

- Đối với số vật chứng: 01 (một) xe mô tô 02 bánh hiệu EXCITER mAg biển kiểm soát 59C1 – 80521; 03 (ba) điện thoại được niêm phong ký hiệu A1, A2, A3; Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

- Buộc bị cáo Phan Trường A nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 113.300.000 đồng;

- Đối với số tiền thu giữ trong túi xách của bị cáo C: 64.800.000 đồng; số tiền 5.700.000 đồng thu giữ của A giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau tiếp tục quản lý để đảm bảo việc thi hành án.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: Quá trình lấy lời khai với bị cáo khi có luật sư tham gia, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, không có ép cung, nhục hình. Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Các bị cáo có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, năn năn hối cải; bà nội bị cáo A và ông nội của bị cáo C là người có công với cách mạng; nguyên nhân phạm tội là do hoàn cảnh gia đình khó khăn; Đồng thời xem xét vai trò của các bị cáo tại vụ án và yêu cầu xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Người bào chữa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Vào ngày 23/6/2018, Phan Trường A đi xe dịch vụ Phương TrAg lên thành phố Hồ Chí Minh liên hệ gặp đối tượng tên Quậy để mua ma túy bốn lạng ma túy với số tiền 200.000.000 đồng đem về phòng trọ ở Khóm 5, phường H, thị x, tỉnh B, để bán lại cho các đối tượng nghiện.

Do ma túy bị ẩm nên A đổ hết số ma túy vừa mua ra khay nhựa để trước gió máy lạnh tại phòng ngủ phơi nơi ở. A kêu C đưa cho A 01 bọc nilon, A lấy một phần ma túy đang phơi trên khay nhựa bỏ vào bọc nilon rồi đi bán ma túy cho đối tượng tên Hiền và cùng C đi bán ma túy cho Phạm Văn Được. Sau đó, A đi Bạc Liêu chơi, kêu C ở nhà lấy cây cọ dùng để trAg điểm xào trộn ma túy đang để trong khay nhựa phơi trước gió máy lạnh. Đến khoảng 23 giờ ngày 24/6/2018 thì C đổ hết ma túy trong khay nhựa vào bọc nilon rồi bỏ dưới bàn hàng ngày C ngồi thêu trAh.

Sáng ngày 25/6/2018, A về nhà lấy bọc ma túy ra phân chia, bỏ vào nhiều bọc nilon nhỏ. Chiều tối cùng ngày, A lấy bốn viên rưỡi thuốc lắc đi xuống Cà Mau để chơi và sử dụng thì bị bắt quả tang. Khám xét nơi ở thì thu giữ toàn bộ ma túy cùng các tang vật tại vụ án.

Tại Kết luận giám định số 292/KLGD-PC54 ngày 28.6.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: Các mẫu viên nén và mẫu tinh thể màu trắng trong các bịch nylon có 474,8835 gam ma túy, loại MDMA, Methamphetamine và Ketamine, loại không phải ma túy là 62.8351 gam.

Do đó, Cáo trạng số 52/CT – VKS – P1 ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm e khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội. Bởi lẽ, ma tuý là chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Mọi hành vi liên quan đến chất ma tuý trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và trật tự A toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo với đời sống xã hội có thời hạn để cải tạo bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khai nhận đã nhiều lần mua bán ma túy cho các đối tượng nghiện; Riêng bị cáo A đã 03 lần mua ma túy của đối tượng tên Quậy ở Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Phan Trường A là người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và chia nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện ma túy. Nguyễn Kim C đồng phạm với vai trò giúp sức trong việc quản lý, cất giữ, làm khô chất ma túy; tham gia cùng A bán ma túy cho một số đối tượng nghiện; đưa tiền cho A mua ma túy. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối bị cáo C thấp hơn so với bị cáo A.

Sau khi phạm tội, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tự khai ra các lần phạm tội khác, ông nội bị cáo C và bà nội bị cáo A là người có công với cách mạng nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu huỷ những vật chứng cấm và không còn giá trị sử dụng gồm: các phong bì được niêm phong kín là mẫu vật hoãn trả số 292/M.6, M.7, M.8, M9 ngày 28/6/2018 có đóng hình dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long (là mẫu vật hoàn lại sau giám định khối lượng chất ma túy) có chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Thành Trung và người chứng kiến Trương Minh Giảng; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) máy ép bọc màu xanh; 04 (bốn) ống thủy tinh và 03 (ba) bình thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) mâm bê ca màu trắng, viền xanh, có hình bông và quả táo, ký hiệu VCP/C15.

- Đối với số vật chứng: 01 (một) xe mô tô 02 bánh hiệu EXCITER mAg biển kiểm soát 59C1 – 80521; 03 (ba) điện thoại được niêm phong ký hiệu A1, A2, A3; Xét thấy có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;

- Đối với số tiền thu lợi bất chính: Theo bị cáo A thừa nhận đã bán ma túy cho Được, Quốc An, Nguyên, Hiền tổng cộng khoản 109.800.000 đồng; Bị cáo C khai giúp A bán ma túy cho các đối tượng nghiện 05 lần khoảng 2.500.000 đồng; Tổng số tiền bị cáo A thu lợi bất chính có cả số tiền thu giữ tại Biên bản phạm tội quả tang (thu giữ trong túi xách của bị cáo C: 64.800.000 đồng; số tiền 5.700.000 đồng thu giữ của A) là 113.300.000 đồng; Quan điểm của của Viện kiểm sát đề nghị tịch thu sung công quỹ số tiền bị cáo A thu lợi bất chính, sau khi đối trừ số tiền đã thu giữ của các bị cáo. Các bị cáo và người bào chữa thống nhất không trAh luận về phần này nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của Viện kiểm sát.

. Đối với Quậy, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của Quậy nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với Phạm Văn Được, Nguyễn Quốc An, Lâm Trần Thái Nguyên, Nguyễn Thành Khiêm, Hiền và Vũ có hành vi mua ma túy của A và C. Tuy nhiên, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Cà Mau không truy cứu trách nhiệm hình sự mà xử lý hành chính là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm e khoản 4 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đối với các bị cáo; Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo C;

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C (Kim M) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Xử phạt bị cáo Phan Trường A 20 (hai mươi) năm tù.Thời hạn tù được tính từ ngày 26.6.2018.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim C 10 (mười) năm tù.Thời hạn tù được tính từ ngày 26.6.2018.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu huỷ, gồm: Các phong bì được niêm phong kín là mẫu vật hoãn trả số 292/M.6, M.7, M.8, M9 ngày 28/6/2018 có đóng hình dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long (là mẫu vật hoàn lại sau giám định khối lượng chất ma túy) có chữ ký, họ tên của giám định viên Nguyễn Thành Trung và người chứng kiến Trương Minh Giảng; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) máy ép bọc màu xanh; 04 (bốn) ống thủy tinh và 03 (ba) bình thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) mâm bê ca màu trắng, viền xanh, có hình bông và quả táo, ký hiệu VCP/C15.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô 02 bánh hiệu EXCITER mAg biển kiểm soát 59C1 – 80521; 03 (ba) điện thoại được niêm phong ký hiệu A1, A2, A3.

- Buộc bị cáo Phan Trường A nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 113.300.000 đồng. Đối với số tiền 70.500.000 đồng thu giữ của các bị cáo, giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau tiếp tục quản lý và đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

(Số vật chứng này Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau đang quản lý theo Biên lai thu tiền số 0000090 ngày 13/12/2018 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Cà Mau với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Phan Trường A và Nguyễn Kim C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ