vanban.org

Bản án 03/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 15/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2018. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,76 gam chất bột màu trắng Heroine; tịch thu của bị cáo Tòng Văn C 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - Tòng Văn C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS-ST
Ngày 15/01/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Hồng và bà Dương Thị Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Tằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 03/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tòng Văn C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982; tại huyện T, tỉnh Điện Biên; là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam; nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nhân viên bảo vệ tại Trường Mầm non Q; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Tòng Văn K, đã chết và con bà: Lù Thị C, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Lò Thị H, sinh năm 1984 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2018 đến ngày 07/11/2018 và bị tạm giam từ ngày 07/11/2018 cho đến nay. Bị cáo đã được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời có nghĩa vụ liên quan:

1. Họ và tên: Quàng Thị T; tên gọi khác: Không; sinh năm 1989; nơi cư trú: Bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

2. Họ và tên: Lò Văn L; tên gọi khác: Không; sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

3. Họ và tên: Lù Thị C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1962; nơi cư trú: Bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 02/11/2018; Tòng Văn C một mình điều khiển xe máy từ nhà C tại bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đi lên nhà Quàng Thị T, sinh năm 1989, trú tại bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên để mua Heroine. Khi đến nhà của T, C gặp T đang đứng ở trước cửa nhà của T; C hỏi “Em có hàng không (Ý nói có Heroine không), có thì bán cho anh bốn trăm nghìn đồng?”; T trả lời “Có” và bảo C đứng đợi trước cửa nhà T. Khoảng 10 phút sau T đi từ nhà ra chỗ C đang đứng đợi và đưa cho C 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng C biết đó là Heroine. C cầm gói Heroine T đưa cho rồi lấy tiền trong túi đưa ra cho T 400.000đ; T nhận tiền xong rồi đi vào nhà, còn C cầm gói Heroine bên tay trái, điều khiển xe máy đi về thăm mẹ của C là bà Lù Thị C, trú tại bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Khi C đang ở nhà mẹ của C thì có Lò Văn L, sinh năm 1981, trú tại bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đến gặp và hỏi C. Lai hỏi C “Có Heroine không, bán cho anh một trăm nghìn đồng”, C trả lời “Có” và lấy Heroine đang cầm trên tay ra dùng tay bẻ lấy một ít cho vào một gói nilon màu trắng mà C nhặt ở trong nhà đưa cho L, L nhận Heroine C đưa xong Lai đưa cho Cương số tiền 100.000đ rồi L đi luôn, đi đâu làm gì C không biết. Sau khi bán Heroine cho L xong, số Heroine còn lại C gói vào một túi nilon màu xanh cất vào trong túi áo bên trái đang mặc trên người. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 02/11/2018; khi C đang ở nhà mẹ của C thì có tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo phát hiện bắt quả tang thu giữ của C 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi Heroine và tạm giữ của C 135.000đ. Tổ công tác đã đưa Tòng Văn C cùng vật chứng về Cơ quan điều tra để làm rõ.

Sau khi đưa vật chứng về Cơ quan điều tra, Công an huyện Tuần Giáo thì Cơ quan điều tra đã mở niêm phong có sự chứng kiến của bị cáo: Đối với 01 gói chất bột màu trắng nghi Heroine thu giữ của bị cáo Tòng Văn C được xác định khối lượng 0,84 gam và trích 0,08 gam làm mẫu vật gửi giám định. Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số: 207, ngày 05/11/2018. Tại bản Kết luận giám định số: 53/GĐ-PC09 ngày 09/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Tòng Văn C gửi giám định là chất ma túy: loại Heroine.

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS-TG ngày 21 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Tòng Văn C về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại phiên tòa Vị kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo C từ 24 tháng đến 30 tháng tù; không phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tịch thu tuyên hủy 01 gói một phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,76 gam chất bột màu trắng Heroine; tịch thu sung quỹ Nhà nước 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); trả lại cho bị cáo 35.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo C nhận mình đã có hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn C đã thừa nhận: Vào hồi 07 giờ ngày 02/11/2018 C đã mua 01 gói Heroine với giá 400.000đ của Quàng Thị T, trú tại bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Sau khi mua được Heroine C đi về nhà mẹ đẻ của C là bà Lù Thị C, trú tại bản C, xã Q, huyện T. Tại nhà của bà C, bị cáo C đã bẻ một ít Heroine bán cho Lò Văn L, trú tại bản C, xã Q, huyện T với giá 100.000đ, số tiền này C đã nhận từ L. Việc trao đổi mua bán ma túy khi bị cáo thực hiện không có ai biết, không có ai tham gia cùng bị cáo, không cân xác định khối lượng. Số Heroine còn lại, đã bị thu giữ. Quá trình mở niêm phong xác định khối lượng 0,84gam thì bị cáo đều được chứng kiến và thừa nhận khối lượng thu giữ được xác định là hoàn toàn chính xác. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung cáo trạng và tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tòng Văn C đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, đồng thời hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho tình hình phạm tội về ma túy ngày càng diễn biến phức tạp và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi tàng trữ 0,84 gam Heroine với mục đích sử dụng và bán lẻ kiếm lời của bị cáo, không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Tòng Văn C sinh ra và lớn lên tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà sản xuất cùng gia đình. Bị cáo có vợ là Lò Thị H và có 02 người con. Năm 2003 nhập ngũ vào Trung đoàn 82 tỉnh Điện Biên đến năm 2005 thì xuất ngũ về địa phương. Năm 2006 làm nhân viên bảo vệ Trường Mầm non, xã Q đến khi bị bắt. Năm 2007 kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam, năm 2008 chuyển đảng viên chính thức. Đến ngày 07/11/2018 bị Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo. Tại hồ sơ bị cáo cung cấp Chứng nhận kỷ niệm chương của ông Tòng Văn K, tuy nhiên đối chiếu với quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Bộ luật hình sự thì không thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo là người chồng, người cha trong gia đình, lẽ ra bị cáo cần phải nỗ lực rèn luyện, lao động để xây dựng kinh tế cùng gia đình, là tấm gương để các con noi theo. Hơn nữa, bị cáo là người đã được rèn luyện trong quân ngũ, có công việc ổn định, là một đảng viên đảng cộng sản Việt Nam nhưng bị cáo không lấy đó để thể hiện trách nhiệm của bản thân với gia đình và xã hội. Do không làm chủ được bản thân đã dẫn đến nghiện ma túy, cũng từ nghiện ma túy, mà bị cáo đã biết được việc mua bán ma túy đem lại lợi nhuận nên bị cáo đã bất chấp quy định của Pháp luật mua ma túy nhằm bán lẻ kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bởi vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội cũng là giúp bị cáo có thời gian cách ly để cai nghiện ma túy.

Theo khoản 5 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo Tòng Văn C từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo nên cần chấp nhận.

Đối với Quàng Thị T là người bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, tuy nhiên qua đối chất lấy lời khai của T, T không thừa nhận. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc T bán ma túy cho bị cáo nên không có cơ sở để kết luận Quàng Thị T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; do đó HĐXX không xem xét.

Bị cáo khai đã bán ma túy cho Lò Văn L, trú tại bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Tuy nhiên quá trình xác minh và triệu tập L, L không có mặt tại địa phương. Đối với hành vi mua ma túy sử dụng của Lai cơ quan điều tra sẽ xử lý sau, nên HĐXX không xem xét.

Đối với bà Lò Thị C, bị cáo bán ma túy trong nhà của bà C. Tuy nhiên bà C không biết bị cáo bán ma túy trong nhà của mình, nên bà C không phạm tội. Bởi vậy HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng cần căn cứ vào điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng như sau: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,76 gam chất bột màu trắng Heroine vì đây là vật cấm lưu hành; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ vì đây là khoản tiền thu lời bất chính từ việc bị cáo đã bán ma túy cho Lò Văn L. Trả lại cho bị cáo 35.000đ vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo đủ điều kiện miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại đối với các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/11/2018.

3. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy 01 gói phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín có khối lượng: 0,76 gam chất bột màu trắng Heroine; tịch thu của bị cáo Tòng Văn C 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước; trả lại bị cáo 35.000đ. Đặc điểm vật chứng nói trên được ghi theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Tuần Giáo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo ngày 02/01/2019.

4. Án phí: Bị cáo Tòng Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tòng Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 15/01/2019).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Cỡ chữ