vanban.org

Bản án 03/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 28/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn C 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "B ị cáo Lương Văn C tội " Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS - ST
Ngày: 28 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bé

Ông Thạch Khêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Sơn Nhựt Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2018/TLST- HS, ngày 18 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-HS, ngày 14/01/2019 đối với bị cáo: Lương Văn C, sinh ngày 08/12/1986, tại huyện T, tỉnh V; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn D và bà Đinh Thị M; Người chung sống như vợ chồng với bị cáo: Chị Phan Thị Dịu T; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 tiền sự, vào ngày 23/3/2018 bị Công an xã H, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp tiền phạt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Nguyễn Trường Q, sinh năm 1986; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Anh Lê Phước T2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Ông Võ Văn T3, sinh năm 1978; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Anh Trương Minh H, sinh năm 1989; Nơi cư trú ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Anh Lê Minh N, sinh năm 1987; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Anh Trần Văn T4, sinh năm 1975; Nơi cư trú: ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V.

Tất cả đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 15/8/2018, nhận được tin báo của quần chúng tại nhà của ông Võ Văn T3, sinh năm 1978, ngụ ấp ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V có một số đối tượng đang tham gia đánh bạc (Lắc bầu cua) ăn thua bằng tiền. Công an xã H tiến hành kiểm tra bắt quả tang các đối tượng Lương Văn Ch, Nguyễn Trường Q, Nguyễn Thanh T1, Lê Phước T2 đang đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền.

Vật chứng thu giữ gồm có:

+ 01 (một) bộ bầu cua (03 hột bầu cua hình lập phương có 06 mặt gồm các hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai và một tờ giấy có in hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai.

+ 01 (một) dụng cụ dùng để lắc bầu cua (một hộp giấy hình trụ tròn được bịt kín một đầu và một giá cân);

+ Tiền Việt Nam: 390.000 đồng. Trong đó:

- Thu tại chiếu bạc là 320.000 đồng (Của C 250.000 đồng, của T1 70.000 đồng).

- Nguyễn Thanh T1 tự giao nộp trong quá trình điều tra: 70.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Lương Văn C thừa nhận tham gia lắc bầu cua ăn thua bằng tiền từ lúc tham gia chơi đến khi bị lực lượng Công an vào kiểm tra, bị cáo C chơi được khoảng 20 ván, số tiền đặt thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng, còn đặt con gì, đặt bao nhiêu tiền cho mỗi một ván thì bị cáo không nhớ rõ, bị cáo C dùng tiền để tham gia đánh bạc trong ngày 15/8/2018 là 200.000 đồng. Quá trình đánh bạc C thắng được 50.000 đồng.

+ Nguyễn Trường Q: Đã thừa nhận tham gia đánh bạc được khoảng 25 ván, trong đó Q trực tiếp lắc bầu cua được khoảng 20 ván, số tiền đặt thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng. Số tiền Nguyễn Trường Q dùng để đánh bạc trong ngày 15/8/2018 là 130.000 đồng, nhưng đã thua hết.

+ Nguyễn Thanh T1: Thừa nhận ngày 15/8/2018 đã tham gia đánh bầu cua ăn thua bằng tiền, từ lúc tham gia chơi cho đến khi Công an vào kiểm tra, T1 chơi được khoảng 20 ván, số tiền đặt thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng (Chỉ đặt bằng miệng chứ không mang theo tiền, T1 đánh bạc bằng cách sanh sửa của C và Q). Đến khi Công an vào kiểm tra thì T1 thắng được 70.000 đồng.

+ Lê Phước T2: Thừa nhận tham gia đánh bầu cua ăn thua bằng tiền, từ lúc tham gia chơi cho đến khi Công an vào kiểm tra, T2 chơi được khoảng 05 ván, số tiền đặt thấp nhất 10.000 đồng, cao nhất 50.000 đồng, số tiền T2 dùng để tham gia đánh bạc trong ngày 15/8/2018 là 60.000 đồng. Quá trình đánh bạc T2 thắng được 10.000 đồng.

Tổng số tiền của bị cáo Lương Văn C, Nguyễn Trường Q, Nguyễn Thanh T1 và Lê Phước T2 dùng để đánh bạc là 390.000 đồng.

Đối với Nguyễn Trường Q, sinh năm 1986, Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988 và Lê Phước T2, sinh năm 1980 cùng ngụ tại ấp ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V, tuy có thực hiện hành vi đánh bạc nhưng số tiền mà Q, T1,T2 dùng để đánh bạc không đủ định lượng và bản thân của những người này cũng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật hình sự nên hành vi của Q, T1, T2 không cấu thành tội đánh bạc. Tuy nhiên hành vi của Q, T1 và T2 đã phạm vào điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính Phủ. Do đó, ngày 08/11/2018 Công an huyện Tiểu Cần đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trường Q, Nguyễn Thanh T1 và Lê Phước T2 mỗi người: 1.500.000 đồng và tịch thu của Nguyễn Thanh T1 70.000 đồng, của Lê Phước T2 70.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với Trương Minh H, sinh năm 1989; Lê Minh N, sinh năm 1987 cùng ngụ ấp ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V và Trần Văn T4, sinh năm 1975, ngụ ấp ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V chỉ ngồi xem, không có tham gia đánh bạc.

Đối với ông Võ Văn T3, biết bị cáo C cùng với Q, T1, T2 đánh bạc ăn thua bằng tiền tại nhà của mình chỉ ngồi xem không có thu tiền xâu. Nhưng ông T3 để mặc cho bị cáo C cùng với Q, T1, T2 đánh bạc tại địa điểm thuộc quyền quản lý, sở hữu của ông. Do đó, hành vi của ông T3 là hành vi “Che giấu việc đánh bạc trái phép” đã phạm vào điểm b, khoản 3, Điều 26 Nghị định 167 ngày 12/11/2013 của Chính Phủ. Công an huyện Tiểu Cần đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Võ Văn T3 về hành vi Che giấu việc đánh bạc trái phép với số tiền 2.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 (một) bộ bầu cua, 01 (một) dụng cụ dùng để lắc bầu cua và số tiền 250.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSND-TC ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã truy tố bị cáo Lương Văn C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn C thừa nhận: Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nêu về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, đồng thời cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng và bị cáo không có ý kiến trình bày bổ sung gì thêm nội dung so với bản cáo trạng mà bị cáo đã nhận.

Phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lương Văn C từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo tham gia đánh bạc là 250.000 đồng.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bộ bầu cua (03 hột bầu cua hình lập phương có 06 mặt gồm các hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai và một tờ giấy có in hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai.

+ 01 (một) dụng cụ dùng để lắc bầu cua (một hộp giấy hình trụ tròn được bịt kín một đầu và một giá cân);

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lương Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lương Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm số tiền phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Những người làm chứng anh Nguyễn Trường Q, anh Nguyễn Thanh T1, anh Lê Phước T2, ông Võ Văn T3, anh Trương Minh H, anh Lê Minh N, anh Trần Văn T4 vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn C đã khai nhận ngày 15/8/2018 bị cáo và những đối tượng khác là Nguyễn Trường Q, Nguyễn Thanh T1, Lê Phước T2 có tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức là chơi lắc bầu cua với số tiền đánh bạc là 390.000 đồng đúng như cáo trạng truy tố.

Xét lời khai của bị cáo Lương Văn C tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản thu giữ vật chứng. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 40 phút, ngày 15/8/2018 tại nhà ông Võ Văn T3, sinh năm 1978, ngụ ấp N, xã H, huyện T, tỉnh V, bị cáo Lương Văn C và những đối tượng khác là Nguyễn Trường Q, Nguyễn Thanh T1, Lê Phước T2 đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức là lắc bầu cua với số tiền đánh bạc là 390.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự (5.000.000 đồng) nhưng vào ngày 23/3/2018, bị cáo bị Công an xã H, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị cáo C lại tiếp tục đánh bạc nên hành vi của bị cáo Lương Văn C đã đủ yêu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bản cáo trạng số: 01/CT-VKSND-TC ngày 17 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã truy tố bị cáo ra trước tòa về tội “Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, mà trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, đánh bạc còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến chính sách xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ở địa phương. Hiện nay, tình hình đánh bạc nói chung, lắc bầu cua ăn thua bằng tiền nói riêng trên địa bàn huyện Tiểu Cần diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng, để đấu tranh phòng chống có hiệu quả loại tội phạm này cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có người thân có công với Cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với những tình tiết giảm nh như trên đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ áp dụng chính sách nhân đạo là dùng hình phạt tiền làm hình phạt chính như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát để xử phạt nhằm răn đe giáo dục bị cáo để bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình mà tu tâm dưỡng tính, tự rèn luyện để mai sau trở hành người tốt.

Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng vụ án, án phí: Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lương Văn C 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

2. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo đã đánh bạc là 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Số tiền bị cáo đã đánh bạc 250.000 đồng được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh nộp tại biên lai thu tiền số 0005695 ngày 18/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bộ bầu cua (03 hột bầu cua hình lập phương có 06 mặt gồm các hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai và một tờ giấy có in hình: Bầu, Tôm, Cua, Cá, Gà, Nai.

+ 01 (một) dụng cụ dùng để lắc bầu cua (một hộp giấy hình trụ tròn được bịt kín một đầu và một giá cân);

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lương Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ