vanban.org

Bản án 03/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 21/9/2018). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI SƠN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS-ST
Ngày 23 - 01 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

- Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ và ông Nguyễn Đức Việt

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2019/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường G. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1979, tại: huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn A, huyện A, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lái xe. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông Nguyễn Xuân L và bà Phạm Thị L1. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn), bị cáo có 01 con sinh năm 2001. Tiền án: Không. Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/09/2018, giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Công ty XYZ, Địa chỉ: tỉnh Sơn La. Đại diện theo pháp luật là bà Vi Thị X – Giám đốc công ty. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19.9.2018, Nguyễn Trường G đi bộ từ lán công trình xây dựng thủy lợi của công ty 6768 ở bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đến khu vực dân cư bản Bướm Ỏ mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi G gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đứng ở lề đường, G hỏi mua hồng phiến, người đàn ông trả lời có bán và bảo giá mỗi viên là 40.000VNĐ. G hỏi mua 05 viên và đưa tiền, người đàn ông cầm tiền rồi lấy từ túi quần bên phải đang mặc 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng, 05 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký tự WY đưa cho G và bảo cho thêm heroine để sử dụng. G cầm gói ma tuý cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về lán công trình. Đến khoảng 14 giờ ngày 20.9.2018, Vi Trường T là Phó giám đốc công ty giao cho G điều khiển xe ô tô hiệu FORRLAND BKS: 26C – 060.66 đi đến T phố Sơn La để chở vật liệu xây dựng. Sau khi nhận xe G lấy gói ma tuý cất giấu trong túi quần để vào hộc chứa đồ trên táp lô phía bên phải vô lăng của xe ô tô rồi điều khiển xe đi đến T phố Sơn La. Khi đi đến khu vực đường Quốc lộ 4G thuộc địa phận bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn thì G bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng gồm: toàn bộ chất bột màu trắng nghi là heroine và 5 viên nghi ma túy tổng hợp; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE vỏ màu trắng kèm theo 01 sim, 01 xe ô tô hiệu FORLAND màu sơn xanh BKS: 26C - 060.66, 01 chai nhựa màu trắng có gắn tẩu bằng tre.

Ngày 21.9.2018 cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn phối hợp với phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định đối với số ma túy đã thu giữ của Nguyễn Trường G. Kết quả:

+ Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Trường G là 0,02 gam, trích rút 0,02 gam ký hiệu từ M1 làm m u giám định.

+ Tổng khối lượng 05 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có kí tự WY là 0,51 gam. Trích rút 0,51 gam ký hiệu M2 để làm m u giám định.

Ngày 26.9.2018 Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 1045/KLMT, kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là ma tuý; Loại heroine. Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 là ma tuý; Loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,02 gam loại heroine; 0,51 gam loại Methamphetamine.”

Tại phiên toà bị cáo đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKSMS ngày 08/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trường G về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối vớibị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G từ 14 đến 20 tháng tù giam.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 chai nhựa màu trắng có gắn tẩu bằng tre.

Tạm giữ để bảo đảm thi hành án 01 điện thoại di động hiệu IPHONE vỏ màu vỏ màu trắng kèm theo sim thu giữ của Nguyễn Trường G.

Chấp nhận việc cơ quan điều tra công an huyện Mai Sơn đã trao trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu FORLAND, sơn màu xanh, gắn biển kiểm soát 26C-060.66 cho công ty XYZ.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo tự bào chữa: Đều nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 19.09.2018 bị cáo G đã mua trái phép 200.000 VNĐ Methamphetamine và Heroine mục đích để sử dụng. Đến ngày 20.09.2018 G bị tổ công tác Công an huyện Mai Sơn bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,02 gam Heroine và 0,51 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 thì tổng khối lượng chất ma túy khi bắt quả tang bị cáo là 0,53 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 20 giờ 00 phút ngày 20.9.2018, biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút m u giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định của Phòng k thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thu n.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trường G đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Điều luật quy định:

Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Trường G không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, với lỗi cố ý. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố, mẹ đẻ của bị cáo đều là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng huân, huy trương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số hê rô in khi bắt quả tang đối với bị cáo đã được trích rút làm m u giám định. Vỏ vật chứng còn lại ban đầu, 01 vỏ chai nhựa màu trắng có gắn ống tre sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE kèm theo sim thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội sẽ được tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với chiếc xe ô tô hiệu FORLAND màu sơn xanh BKS: 26C - 060.66 bị cáo đang điểu khiển lưu thông trên đường và được bị cáo sử dụng để cất dấu ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định thuộc sở hữu của công ty XYZ. Khi bị cáo bị bắt quả tang, bị cáo đang lưu thông chiếc xe trên trên đường với mục đích là làm nhiệm vụ đi chở vật liệu xây dựng cho công ty (bị cáo là lái xe của công ty). Công ty XYZ và những người của công ty có thẩm quyền giao xe cho bị cáo sử dụng không biết việc bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy và cất dấu ma túy trên xe. Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc xe ô tô trên cho Công ty XYZ là phù hợp với quy định của pháp luật. Cần chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Trường G khai mua của một người đàn ông không quen biết, quá trình mua bán trao đổi không có ai biết, chứng kiến. Do đó không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 15 (mười lăm) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 21/9/2018).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu, 01 vỏ chai nhựa màu trắng có gắn ống tre.

Tạm giữ để bảo đảm thi hành án 01 điện thoại di động hiệu IPHONE vỏ màu trắng kèm theo sim thu giữ của Nguyễn Trường G.

Chấp nhận việc cơ quan điều tra công an huyện Mai Sơn đã trao trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu FORLAND, sơn màu xanh, gắn biển kiểm soát 26C-060.66 cho công ty XYZ.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ