- Tranh chấp gì? án hình sự — "ran Van T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 03/2019/HS-PT Ngày: 24 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Hiệp
Các thẩm phán: Bà Bùi Thị Thảo
Ông Tô Văn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 04/2019/TLPT - HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình.
*Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1975; tại xã P, huyện V, tỉnh Ninh Bình; cư trú tại thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Bùi Thị M; có vợ Đào Thị T và có 03 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2012; tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 46/2018/HSST ngày 30/8/2018, Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Văn T 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 10 triệu đồng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị: (Tòa án không triệu tập).
Anh Ông Đinh Quốc V, bà Nguyễn Thị T, chị Đào Thị T: Đều cư trú: xã P, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 07/10/2018 Trần Văn T điều khiển xe mô tô đến nhà Đinh Quốc V là đại lý bán vé xổ số cho Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết tỉnh Ninh Bình, chi nhánh huyện V (ngoài bán vé xổ số, V còn ghi số lô, số đề cho khách để kiếm lời). Khi gặp V, T nói: “ Ghi cho em mấy con” ý T đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề cụ thể như sau: Lô Ninh Bình các số 17 x 03 điểm, 71 x 01 điểm, 06 x 1,5 điểm, 01 x 01 điểm và số đề hai số 01 x 55.000 đồng, 06 xx 22.000 đồng; số đề ba số 201 x 20.000 đồng. Tổng số tiền T mua số lô, số đề của V ngày 07/10/2018 là 227.000 đồng, V nghi số lô, số đề T mua vào 01 cáp đề đồng thời ghi luôn vào bảng tổng hợp số lô, số đề bán cho khách trong ngày 07/10/2018. Cùng lúc đó tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện. Thu giữ của Đinh Quốc V 01 tờ giấy kích thước (25 x 15 cm) là bảng tổng hợp số lô, số đề ngày 07/10/2018 với số tiền trong bảng là 2.199.000 đồng; 01 cáp đề kích thước (4 x 8)cm; 01 bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đen; 01 máy tính cá nhân nhãn hiệu Sanrio màu hồng và số tiền 547.000 đồng. Thu giữ trong người Trần Văn T số tiền 1.100.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave RSX Biển kiểm soát 35 N1 – 116.20.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Quốc V Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Hình thức đánh bạc các bên quy ước với nhau là: Đối với đề hai số người chơi sẽ bỏ ra một số tiền để mua 02 con số nếu 02 con số đó trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng trong ngày thì người chơi trúng đề và được hưởng 70 lần số tiền mà họ bỏ ra để mua số đề. Đối với đề ba số, người chơi sẽ bỏ ra một số tiền để mua các số từ 000 đến 999, so sánh với ba số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả xỏ số miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu trúng thì người chơi trúng đề và được hưởng 400 lần số tiền mà họ bỏ ra để mua số đề. Hình thức chơi lô như sau: Đối với số lô Ninh Bình thì mỗi điểm lô người chơi phải bỏ ra 20.000 đồng để mua 02 số; người trúng lô là người chơi có số lô trùng với 02 số cuối của 27 giải theo kết quả xổ số miền Bắc trong ngày, mỗi điểm lô mà người chơi trúng số lô sẽ được hưởng 70.000 đồng ( không được tính quá 02 lần trúng thưởng).
Kết quả điều tra định ngày 07/10/2018 Trần V Tuấn đánh bạc với Đinh Quốc V bằng hình thức “ nghi lô, đề” được thu bằng tiền, bị bắt trước khi mở thưởng kết quả xổ số miền Bắc trong ngày. Vì vậy số tiền Trần Văn T đánh bạc ngày 07/10/2018 là 227.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển kiểm soát 35N1 – 116.20 thu của Trần Văn T cho chị Đào Thị T (là vợ anh T); trả lại số tiền 547.000 đồng thu giữ của Đinh Quốc V cho chị Nguyễn Thị T ( là vợ của anh V).
Ngoài ra Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã ra quyết định chuyển vật chứng: 01 bút bi vỏ màu đỏ, múc màu đen; 01 máy tính cá nhân nhãn hiệu Sanrio màu hồng đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện V và chuyển số tiền 1.100.000 đồng đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện V để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 46/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình; buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp, về án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/12/2018, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn T vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm xác định về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Sau khi phân tích vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn T; giữ quyết định của bản án sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình về mức hình phạt. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù về tội: “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 46/2018/HS-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Trần Văn T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người liên quan, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ căn cứ để kết luận vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/11/2018 Trần Văn T gặp V và nói với Vượng: “ Ghi cho em mấy con” ý T đánh bạc bằng hình thức “nghi số lô, số đề” cụ thể như sau: Lô Ninh Bình các số 17 x 03 điểm, 71 x 01 điểm, 06 x 1,5 điểm, 01 x 01 điểm và số đề hai số 01 x 55.000 đồng, 06 x 22.000 đồng; số đề ba số 201 x 20.000 đồng. Tổng số tiền T mua số lô, số đề của V ngày 07/10/2018 là 227.000 đồng. Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện đã thu giữ của Trần Văn T số tiền là 227.000 đồng đã dùng vào việc nghi số lô, số đề đã bị bắt trước khi mở thưởng kết quả xổ số miền Bắc trong ngày. Thu giữ của Đinh Quốc V 01 tờ giấy kích thước (25 x 15 cm) là bảng tổng hợp số lô, số đề ngày 07/10/2018 với số tiền trong bảng là 2.199.000 đồng; 01 cáp đề kích thước (4 x 8)cm; 01 bút bi vỏ màu đỏ, mực màu đen; 01 máy tính cá nhân nhãn hiệu Sanrio màu hồng và số tiền 547.000 đồng. Thu giữ trong người Trần Văn T số tiền 1.100.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave RSX Biển kiểm soát 35 N1- 116.20. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn T thì thấy tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù là quá nặng.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã có 01 tiền án về tội “ Đánh bạc” xét xử ngày 30/8/2018 chưa được xóa án tích lại có hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo T là thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Số tiền đánh bạc của bị cáo có số lượng nhỏ; tại phiên tòa phúc thẩm ngoài thành khẩn khai báo, bị cáo còn thể hiện rõ sự ăn năn hối cải, bị cáo T còn xuất trình các tài liệu chứng minh bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng nhiều lần được tặng thưởng huân huy chương các loại trong quá trình kháng chiến chống Mỹ giành độc lập cho dân tộc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới xuất hiện tại cấp phúc thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện V.
Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Văn T; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Ninh Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 và khoản 3 Điều 54, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ 02(hai) ngày tạm giữ.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24/01/2019/.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, người phair thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Cấp Cao (01bản); - VKSND Cấp cao (01 bản); - KTGĐ (02bản); - VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản); - Phòng HSNV – Công an Ninh Bình (01bản); - Tòa nhân dân huyện V (03 bản); - VKSND huyện V (01bản); - Chi cục THA- huyện V (01bản); - Công an huyện V (01bản); - Bị cáo (01bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (01 bản); - Lưu phòng HCTP (01bản); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM / HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Đức Hiệp |