- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP TỈNH ĐĂKLĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 22/5/2019. V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thông
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng
2. Ông Phạm Văn Mạc.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Trần Dƣơng Công – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Ea Súp mở lại phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 ; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyeân ñôn: Chị Mai Thị L, sinh năm 1984(Có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn Kim T, xã Kim H, huyện Tuyên H, tỉnh Quảng B.
2. Bò ñôn: Anh Trần Thế Q, sinh năm 1979 (Vắng mặt lần thứ hai)
Nơi ĐKHKTT: Thôn 07, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/01/2019, bản tự khai; biên bản lấy lời khai; biên bản không tiến hành hòa giải được và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Mai Thị Liên trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị L và anh Trần Thế Q tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/02/2016 sau khi kết hôn thì về thôn 07 xã I sinh sống. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình quan điểm sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thiếu tin tưởng và quan tâm chia sẻ lẫn nhau, mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không mang lại kết quả. Hiện nay chị L và anh Q đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thê Q.
Về con chung: Chị L và anh Quan có 01 con chung là cháu Trần Nam Tr, sinh ngày 15/9/2005 , tại đơn khởi kiện chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung tuy nhiên xét thấy sau khi sống ly thân cho đến nay cháu Tr sống cùng anh Q vì vậy chị không muốn làm thay đổi môi trường sống của con nên tại phiên họp tiếp cận công khai chưng cứ và tại phiên tòa chị thay đổi yêu cầu khởi kiện về nuôi con chung và nhường quyền nuôi con chung cho anh Trần Thế Q.
Về tài sản chung và công nợ: Chị Mai Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đã tiến hành giao và niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần cho bị đơn anh Trần Thế Q, anh Q đã biết và nhận được các văn bản tố tụng của Toà án, nhưng không đến làm việc, vắng mặt không có lý do chính đáng, nên không thể tiến hành làm bản tự khai và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án huyện Ea Súp căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, lập biên bản không tiến hành hòa giải được.
Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ kiện, Tòa án huyện Ea Súp đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Mai Thị L và anh Trần Thế Q tại Ban tự quản thôn và Hội phụ nữ thôn 07, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Qua xác minh tại địa phương thì được biết chị L và anh Q trong cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Tòa án huyện Ea Súp đã tiến hành các phiên hòa giải, bản thân chị Mai Thị L nhất quyết xin được ly hôn với anh Trần Thế Q, còn anh Trần Thế Q không đến Tòa án làm việc, nên không thể tiến hành hoà giải được. Do đó căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ea Súp đưa vụ án ra xét xử.
Tại phần tranh luận nguyên đơn chị Mai Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục sống chung cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thế Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ lý vụ án hôn nhân gia đình số 07/2019/TLST - HNGĐ ngày 09/01/2019. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng, giao và niêm yết thông báo thụ lý vụ án, niêm yết thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Ra quyết định xét xử, tống đạt, niêm yết hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện, ý kiến của kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Vụ kiện giữa nguyên đơn chị Mai Thị L, bị đơn anh Trần Thế Q là vụ kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q, nhưng anh Q không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị L. Tại phiên tòa, anh Q vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Xét thấy: Nội dung khởi kiện của chị L thì anh Q đã biết, nhưng anh vẫn mặc nhiên, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Q.
Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy chị Mai Thị L và anh Trần Thế Q chung sống với nhau trên cơ sở tình yêu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/02/2006 theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống, do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, không cùng trí hướng trong cuộc sống. Mặc dù hai bên đã cố gắng hàn gắn nhưng không mang lại kết quả và hiện nay chị L và anh Q đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi chị L và anh Q sinh sống, thì Ban tự quản thôn thôn 07, xã I cho biết, cuộc sống vợ chồng giữa chị L và anh Q xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân một thời gian. Quá trình giải quyết tại Tòa án chị L kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh Q. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu cứ kéo dài hôn nhân của các bên cũng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 luật Hoân nhân & Gia ñình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị L, xử cho chị Mai Thị L được ly hôn với anh Trần Thế Q là phù hợp.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên toà hôm nay, chị Mai Thị L có nguyện vọng giao con chung là cháu Trần Nam Tr cho anh Trần Thế Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng vì sau khi hai vợ chồng sống ly thân thì cháu Tr ở với anh Quan nên chị không muốn làm đảo luộn cuộc sống của cháu. Xét thấy, nguyện vọng của chị L là hợp pháp, quá trình làm việc cháu Tr cũng không có mặt để trình bày nguyện vọng của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao con chung là cháu Trần Nam Tr cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Mai Thị L được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở
Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét và giải quyết.
Về chia tài sản và nợ: Chị L xác định chị tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Còn anh Q không có ý kiến gì. Xét thấy: Đây là quyền định đoạt của các đương sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và không đặt ra giải quyết trong vụ án này về phần chia tài sản và phần nợ. Tuy nhiên, nếu sau này giữa chị L và anh Q có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ mà không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình: Anh Trần Thế Q không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Chị Mai Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 và án phí cấp dưỡng nuôi con theo điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoaûn 1 Ñieàu 28; ñieåm a khoaûn 1 Ñieàu 35; khoản 4 Điều 147, Ñieàu 203 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luaät Hoân nhaân & Gia đình; Khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị L được ly hôn với anh Trần Thế Q.
- Về nuôi con chung: Giao cho anh Trần Thế Q được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là cháu Trần Nam Tr, sinh ngày 15/9/2005 cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000đ cho đến khi cháu Tr đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.
Chị Mai Thị L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Mai Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Súp theo biên lai thu số 0006580 ngày 09/01/2019. Anh Q không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Về án phí cấp dưỡng: Chị Mai Thị L phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định cũa pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Báo cho chị Mai Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn anh Trần Thế Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
| Nơi nhận: - VKS huỵên EaSúp; - Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; - THADS huyện Ea Súp; - UBND xã Y; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Thông |