- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và chia tài sản khi ly hôn giữa anh N - chị T"
- Tòa quyết gì? Ban Thường Vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 06/3/2019 V/v Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH Đ NG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguy n Văn Minh
2. Ông Phùng Hiếu Trung
Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố a Đ c, Đồng Tháp
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh ph a Đ c tham gia phiên tòa: bà Lê Th Ly Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố a Đ c, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 205/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài chung khi ly hôn”, theo quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐ T-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Trần Nhã N, sinh năm 1973
Đ a chỉ: Khóm Q, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
2. Bị đơn: Ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T, sinh năm 1976
Đ a chỉ: Khóm H, phường P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lê Văn K, sinh năm 1949
3.2. Bà Trần Th B, sinh năm 1954
Cùng đ a chỉ: Khóm Q, phường D, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại ơn h i iện n ự hai các biên b n lấy l i hai
ại phi n a h m nay nguy n ơn anh Lê Trần Nhã N trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh N và ch T chung sống vợ chồng từ năm 1996, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/1996 tại UBND phường D, thành phố S. Sau kết hôn vợ chồng ch sống chung nhà với cha mẹ anh N. Anh ch chung sống hạnh phúc cho đến tháng 7/2017 phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, ch T không lo làm ăn, thường xuyên đi chơi với những người đàn ông không rõ lai l ch. Anh N khuyên, ch T không nghe nên vợ chồng cự cãi. Tháng 5/2018, ch T bỏ về nhà cha mẹ ch T sống và vợ chồng ly thân. Nay anh N nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với ch T, tình nghĩa vợ chồng không còn, anh N yêu cầu ly hôn ch T.
2. Về nuôi con chung: Có 02 con tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997 (đã thành niên), không yêu cầu giải quyết và Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002 (hiện đang sống với ch T). Khi ly hôn, anh N không cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung gồm có:
- Hoa kiểng các loại gồm: 200 chậu hồng môn (chậu 7); 150 chậu chuỗi leo (chậu 8); 100 chậu ngãi xanh (chậu 7); 200 chậu ngãi sọc (chậu 7), 06 chậu lan (chậu 5); 400 chậu lài nhỏ (chậu 4); 50 chậu cẩm nhung (chậu 7); 150 chậu trang leo (chậu 7); 150 chậu cây lá màu (chậu 9); 180 chậu bông trang (chậu 10); 100 chậu trầu bà (chậu 8); 100 cây dạ lan thanh (chậu 9); 60 chậu phú quí (chậu 5); 10 chậu da kiểng (chậu 5). Hiện số hoa kiểng trên anh N đã bán hết để lo cho con ăn học nên không còn.
Nay anh N không đồng ý chia số hoa kiểng trên theo yêu cầu của ch T, vì trong thời gian vợ chồng ly thân, anh N đã bán hết số bông kiểng trên để lo chi phí ăn học cho con (Khánh N1). Do anh N bán cho nhiều người, nhiều lần nên không nhớ đã bán cho ai, số tiền bao nhiêu.
Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn có:
- Giàn bông kiểng phía trước gồm: Đà ngang (sắt) 90 cây, 10 nẹp thép 4m, 106 cây sắt loại 6m, 49 cây đà ngang gỗ loại 1,5m, 230 trụ gạch ống.
- Giàn bông kiểng phía trong phần đất gồm: 1170 trụ gạch ống, 585 cây đà ngang gỗ dài 0,9m, 98 cây gỗ tạp dài 12m, 14 giàn ống nhựa loại 4m, 50 cây cột thép cao 3m, 20 cây trụ đá xanh cao 3m, 18 cây ống tuyp dài 6m, 32 cây đố vuông loại 6m, 400m2 lưới che.
Tổng giá tr giàn bông kiểng theo giá Hội đồng đ nh giá đã đ nh là 26 601 040đ (làm tròn 26 601 000đ)
- Căn nhà tạm (không số) kết cấu nền gạch tàu, khung gỗ, mái tole, vách tường + tole tọa lạc tại xã M (xây dựng trên thửa đất 110 do ông K đứng tên) giá tr còn lại là 15 559 000đ; Chi phí san lấp cát trên thửa đất 110 là 24 084 000đ; Chi phí làm bờ kè 16 848 000đ.; Tr giá 02 ghe phân rơm là 190 000 000đ (theo biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá ngày 04/12/2018)
Anh N chỉ đồng ý chia cho ch T ½ giá tr tài sản đối với giàn bông kiểng thành tiền là 13.300.500đ. Anh N không đồng ý chia chi phí san lấp cát và chi phí làm bờ kè cho ch T vì quá trình trồng hoa kiểng thì vợ chồng phải đầu tư, cải tạo đất để làm giàn, đi lại cho thuận tiền Đối với 02 ghe phân rơm thì anh N cũng đã sử dụng để trồng hoa kiểng, hiện nay hoa kiểng cũng đã bán hết nên không đồng ý chia lại ½ giá tr của hai ghe phân rơm Đối với căn nhà tạm anh N không đồng ý chia vì nhà không còn giá tr sử dụng, ch T muốn chia thì tự tháo dỡ di dời, anh N không có ý kiến gì
Đối với giá san lấp bờ kè và căn nhà, anh N không thống nhất theo giá Hội đồng đ nh giá đã đ nh, nhưng anh N không yêu cầu đ nh giá lại.
- Đối với công sức đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa căn nhà ở khóm Q, phường D, thành phố S (kết cấu nhà trệt, móng gia cố cừ, khung bê tông cốt th p, mái tole, vách tường, nền lót gạch creramic). Anh N thừa nhận, khi ông K, bà B xây nhà vào năm 2009, vợ chồng anh N có đóng góp số tiền 30 000 000đ Theo anh N trình bày thì để có số tiền 30 000 000đ đưa cho ông K thì vợ chồng anh N có nhờ ông K vay ngân hàng 30 000 000đ Do nhà thuộc quyền sở hữu của ông K và bà B nên do ông K, bà B tự quyết đ nh, anh N không có ý kiến gì.
Ngoài ra anh N và ch T không còn tài sản chung gì khác.
4. Về nợ chung: Không có.
* Tại b n tự khai, i n n lấy l i hai trong quá trình gi i quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bị ơn chị Nguyễn Võ Hoàng Thanh T r nh y:
1. Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian chung sống, tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn ch T thống nhất theo lời khai anh N. Từ sau kết hôn vợ chồng cùng chung sống bên nhà cha mẹ anh N. Cuộc sống chung hạnh phúc đến khoảng năm 2015 phát sinh mâu thuẫn do anh N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Khi ch T phát hiện, anh N có viết cam kết hứa không còn qua lại với người phụ nữ khác, nhưng không thực hiện. Nay ch T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Ch T đồng ý ly hôn anh N.
2. Về nuôi con chung: có 02 con tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997, đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết và Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002 (hiện đang sống với ch T). Khi ly hôn, ch T yêu cầu nuôi cháu N2, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung:
- Về giàn bông kiểng các loại ch T thống nhất theo lời trình bày của anh N. Nay ch T đồng ý để cho anh N được sở hữu toàn bộ giàn bông kiểng (theo biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá ngày 04/12/2018). Ch T yêu cầu anh N chia cho ch ½ giá tr tài sản là 13 300 500đ
Đối với số hoa kiểng các loại ch T không thống nhất theo lời trình bày của anh N. Theo ch T thì tại thời điểm tháng 7/2018 (khi vợ chồng ly thân), hoa kiểng các loại gồm: 746 chậu hồng môn (chậu 7); 3169 chậu chuỗi leo (chậu 8); 1067 chậu ngãi xanh (chậu 7); 532 chậu ngãi sọc (chậu 7), 09 chậu lan (chậu 3); 814 chậu lài nhỏ (chậu 4); 550 chậu cẩm nhung (chậu 7); 536 chậu trang leo (chậu 7); 522 chậu cây lá màu (chậu 9); 180 chậu bông trang (chậu 10); 242 chậu trầu bà (chậu 8); 165 cây dạ lan thanh (chậu 9); 82 chậu phú quí (chậu 5); 72 chậu da kiểng (chậu 5); 06 chậu lài gốc (chậu 12). Tổng giá tr theo biên bản đ nh giá ngày 04/12/2018 là 102.718.000đ Tài liệu để chứng minh cho lời trình bày của ch có căn cứ là vi bằng số 35 ngày 05/7/2018 do Văn phòng thừa phát lại tỉnh Đồng Tháp lập Do đó, ch yêu cầu anh N chia cho ch ½ giá tr số hoa kiểng là 51 359 000đ
Ngoài ra, trong quá trình chung sống vợ chồng có xây dựng một căn nhà (không số) giá tr còn lại là 15 559 000đ; Đầu tư san lấp cát trên thửa đất 110 của ông K là 24 084 000đ; Cải tạo, làm bờ kè là 16 848 000đ; Tr giá 02 ghe phân rơm là 19 000 000đ. Tổng giá tr tài sản là 75 490 000đ Tất cả số tài sản trên hiện anh N đang quản lý. Ch T yêu cầu anh N chia ½ tr tài sản trên theo giá mà Hội đồng đ nh giá đã đ nh theo biên bản đ nh giá ngày 04/12/2018 là 37 745 000đ
Đối với công sức đóng góp trong việc xây dựng, sửa chữa căn nhà khóm Q, phường D, thành phố S (hiện ông K và bà B đang quản lý) ch T không thống nhất theo lời trình bày của anh N. Ch T cho rằng vào năm 2009, khi ông K và bà B xây nhà, vợ chồng ch có phụ tiếp số tiền 30 000 000đ và 01 năm sau vợ chồng ch có cho ông K thêm 30 000 000đ để trả nợ ngân hàng (khoản tiền này ông K vay để cất nhà). N2 vậy, tổng số tiền vợ chồng ch đóng góp xây dựng căn nhà là 60 000 000đ Theo ch T thì tại thời điểm năm 2009, tổng chi phí xây dựng căn nhà khoảng 200 000 000đ (Nhưng ch không có chứng cứ chứng minh) và số tiền 60 000 000đ vợ chồng ch đóng góp tương đương là 30% giá tr của căn nhà (tại thời điểm xây dựng năm 2009) Theo biên bản đ nh giá tài sản ngày 04/12/2018, giá tr còn lại của căn nhà là 221 657 000đ Nay ch T yêu cầu ông K và bà B trả ½ công sức đóng góp của ch là 15% trên giá tr còn lại của căn nhà là 33 248 000đ (làm tròn)
Ngoài ra ch T không còn tranh chấp tài sản chung gì khác.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ng L Văn K và bà Trần Thị B trình bày:
Sau kết hôn, anh N và ch T cùng sống chung nhà với ông K và bà B, nhưng ăn riêng Năm 2009 khi ông K, bà B xây dựng căn nhà ở khóm Q, phường D, thành phố S (kết cấu căn nhà thống nhất theo lời trình bày của anh N) thì ch T và anh N có phụ tiếp số tiền 30 000 000đ để làm thêm phòng ngủ cho các con của ch T, anh N và phụ tiền cơm nước cho thợ. Để có số tiền 30 000 000đ đưa cho ông K, bà B thì vợ chồng anh N có nhờ ông K vay ngân hàng dùm 30 000 000đ Ngoài số tiền 30 000 000đ vợ chồng anh N đóng góp xây dựng căn nhà trên thì ông K không còn nhận thêm bất cứ khoản tiền nào của ch T. Ngoài ra, trong quá trình ở chung nhà với ông K và bà B, ch T và anh N có làm thêm phần mái che cửa sổ để tránh nước mưa tạt vào nhà, thay mới cửa nhà vệ sinh, thay mới gạch sàn nước. Theo ông K và bà B trình bày thì tổng chi phí xây dựng căn nhà tại thời điểm năm 2009 khoảng 300 000 000đ Nay ông K và bà B không đồng ý trả công sức đóng góp cho ch T vào việc xây dựng, sửa chữa căn nhà vì ch T, anh N ở chung nhà thì phải có trách phụ tiếp cha mẹ. Ngoài ra, ông K và bà B không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
Tại bản khai ngày 25/01/2019, cháu Lê Quỳnh N2 trình bày: Khi cha mẹ ly hôn không còn sống chung với nhau nữa thì cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
* Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy đ nh của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Công nhận anh N và ch T thuận tình ly hôn; Về nuôi con chung: Ch T được nuôi con tên Lê Quỳnh N2, ch T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về chia tài sản chung và công sức đóng góp: Chấp nhận yêu cầu của ch T. Buộc anh N chia ½ giá tr tài sản chung cho ch T là 102 405 000đ; Buộc ông K và bà B trả ½ công sức đóng góp của ch T vào việc xây dựng căn nhà số 155 là 11.083 000đ
- Về án phí, chi phí xem xét thẩm đ nh đề ngh Hội đồng xét xử xem xét theo quy đ nh pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận đ nh:
Về hôn nhân: X t thấy anh N và ch T chung sống vợ chồng từ năm 1996, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/6/1996 tại UBND phường D, thành phố S, Đồng Tháp nên được xác đ nh là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình sống chung anh ch đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không còn tin tưởng, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Anh N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài. Từ tháng 5/2018, ch T đưa con ra ngoài sống và vợ chồng ly thân. Nay, anh N và ch T đều xác đ nh tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không thể hàn gắn tiếp tục trở lại chung sống với nhau. Anh N yêu cầu ly hôn, ch T cũng đồng ý. Xét thấy việc thuận tình ly hôn giữa anh N và ch T là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy đ nh của pháp luật nên căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh N và ch T.
Về nuôi con chung: Anh N và ch T đều thống nhất có 02 con tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997 và Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002. Khi ly hôn, anh N và ch T thống nhất thỏa thuận, ch T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N2. Xét thấy, sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa anh N và ch T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy đ nh tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai có quyền cản trở. Đối với cháu Lê Khánh N1, sinh năm 1997, đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ch T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung Lê N2 Quỳnh nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về chia tài sản chung:
Anh N và ch T thống nhất xác đ nh tài sản chung của vợ chồng cùng tạo tập có một số hoa kiểng các loại. Tuy nhiên, giữa anh N và ch T chưa thống nhất được số lượng cây kiểng tại thời điểm anh ch ly thân (tháng 7/2018). Ch T cho rằng, tại thời điểm anh ch sống ly thân thì số cây kiểng của vợ chồng còn lại gồm: 746 chậu hồng môn (chậu 7); 3169 chậu chuỗi leo (chậu 8); 1067 chậu ngãi xanh (chậu 7); 532 chậu ngãi sọc (chậu 7), 09 chậu lan (chậu 3); 814 chậu lài nhỏ (chậu 4); 550 chậu cẩm nhung (chậu 7); 536 chậu trang leo (chậu 7); 522 chậu cây lá màu (chậu 9); 180 chậu bông trang (chậu 10); 242 chậu trầu bà (chậu 8); 165 cây dạ lan thanh (chậu 9); 82 chậu phú quí (chậu 7); 72 chậu da kiểng (chậu 6); 06 chậu lài gốc (chậu 12). Tài liệu chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của ch T có căn cứ là vi bằng số 35 ngày 05/7/2018 do văn phòng thừa phát lại Đồng Tháp lập.
Về phía anh N cho rằng số hoa kiểng của vợ chồng còn lại tại thời điểm sống ly thân gồm có: 200 chậu hồng môn (chậu 7); 150 chậu chuỗi leo (chậu 8); 100 chậu ngãi xanh (chậu 7); 200 chậu ngãi sọc (chậu 7); 06 chậu lan (chậu 5); 400 chậu lài nhỏ (chậu 4); 50 chậu cẩm nhung (chậu 7); 150 chậu trang leo (chậu 7); 150 chậu cây lá màu (chậu 9); 180 chậu bông trang (chậu 10); 100 chậu trầu bà (chậu 8); 100 cây dạ lan thanh (chậu 9); 60 chậu phú quí (chậu 5); 10 chậu da kiểng (chậu 5). Tuy nhiên anh N không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Hơn nữa, tại thời điểm lập vi bằng, mặc dù không được thông báo trước nhưng khi ch T và nhân viên thừa phát lại đến thì anh N có biết, nhưng anh N không ở lại để chứng kiến việc lập vi bằng để bảo vệ quyền lợi của mình mà cố tình bỏ đi
Ngoài ra, anh N cho rằng số cây kiểng trên khi vợ chồng ly thân, anh đã bán hết để lo cho con (Khánh N1) ăn học, nhưng việc anh N đã bán cho ai, số tiền bao nhiêu thì anh N không chứng minh được. Trong quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh N và ch T đều trình bày khi vợ chồng ly thân thì anh N lo cho cháu N1 còn ch T lo cho cháu N2. Tại phiên tòa hôm nay, anh N và ch T đều thống nhất chi phí lo cho cháu N1 bình quân mỗi tháng 5 000 000đ – 6 000 000đ, và anh N, ch T cũng thừa nhận thu nhập từ vườn kiểng mỗi tháng khoảng 10 000 000đ – 15 000 000đ Hơn nữa khi anh N và ch T ly thân thì con chung mỗi người nuôi một cháu. Do đó, anh N cho rằng đã bán hết hoa kiểng để lo cho cháu N1 ăn học là không có cơ sở chấp nhận.
Tại Khoản 3, Điều 2 Ngh đ nh 135 ngày 18/10/2013 sửa đổi bổ sung ngh đ nh 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ quy đ nh về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại quy đ nh:
“1. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác...”
Do đó, việc ch T yêu cầu anh N chia ½ giá tr thành tiền trên số lượng hoa kiểng các loại theo vi bằng số 35 ngày 05/7/2018, là có căn cứ chấp nhận. Theo biên bản đ nh giá ngày 04/12/2018, tổng giá tr hoa kiểng theo vi bằng là 102 718 000đ Như vậy anh N có trách nhiệm chia cho ch T số tiền 51 359 000đ
Ngoài ra, trong thời gian anh N và ch T sống chung. Anh N và ch T có xây cất một căn nhà (không số) kết cấu nền gạch tàu, khung gỗ, mái tole, vách tường + tole tọa lạc tại xã M (xây dựng trên thửa đất 110 do ông K đứng tên); Đầu tư cải tạo, san lấp bờ kè số tiền 16 848 000đ; Bơm cát trên thửa đất 110 do ông Lê Văn K, cha của anh N đứng tên (đất tọa lạc tại xã M), ông K cho anh N, ch T mượn để trồng hoa kiểng số tiền là 24.084.000 và 02 ghe phân rơm tr giá 19 000 000đ (hiện anh N đang quản lý số tài sản trên). Ch T yêu cầu anh N chia cho ch ½ giá tr tài sản trên, ch T không có yêu cầu gì đối với ông K. Anh N không đồng ý theo yêu cầu của ch T. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh N thống nhất theo lời trình bày của ch T, trong quá trình chung sống, vợ chồng có tạo lập được số tài sản trên. Sau khi anh N và ch T ly thân thì anh N là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Hiện tại thì anh N cũng đang canh tác, trồng hoa kiểng Do đó, việc ch T yêu cầu anh N chia cho ch ½ giá tr tài sản theo giá mà Hội đồng đ nh giá đã đ nh là có căn cứ pháp luật.
Buộc anh N chia cho ch T ½ giá tr 02 ghe phân rơm là 9 500 000đ; ½ giá tr còn lại của căn nhà là 7.779.500đ; ½ chi phí san lấp cát là 12.042.000đ; ½ chi phí san lấp bờ kè là 8 424 000đ
Đối với việc anh N không thống nhất với giá tr còn lại của căn nhà tạm và chi phí san lấp bờ kè theo giá mà Hội đồng đ nh giá đã đ nh, nhưng anh N cũng không yêu cầu đ nh lại Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với giàn bông kiểng, anh N và ch T đều thống nhất với giá mà Hội đồng đ nh giá đã đ nh là 26.601 000đ Anh N đồng ý chia ½ giá tr cho ch T là 13 300 500đ. Ch T đồng ý giao toàn bộ giàn bông kiểng cho anh N sử dụng. Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy đ nh của pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Xét yêu cầu của ch T yêu cầu ông K và bà B trả ½ công sức đóng góp của ch trong việc xây dựng căn nhà số 115, khóm Q, phường D, thành phố a Đ c là 15 trên giá tr còn lại của căn nhà là 33 248 000đ (làm tròn)
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông K và bà B thừa nhận khi ông K xây nhà, vợ chồng ch T có đóng góp số tiền 30 000 000đ để làm thêm phòng ngủ cho các con của ch T và anh N. Tr giá căn nhà xây dựng năm 2009 theo ch T là 200.000 000đ và theo ông K là 300 000 000đ (kết cấu căn nhà theo biên bản đ nh giá). Tuy nhiên, theo ông K thì để có số tiền 30 000 000đ đưa cho ông K thì vợ chồng ch T có nhờ ông K vay ngân hàng nông nghiệp 30 000 000đ. Về phía ch T không thống nhất theo lời trình bày của ông K, bà B. Theo ch T trình bày thì năm 2009, khi ông K xây dựng căn nhà, vợ chồng ch có đóng góp 30 000 000đ và 01 năm sau vợ chồng ch có tặng cho ông K thêm 30 000 000đ để trả nợ ngân hàng (khoản tiền này ông K vay để cất nhà số 155). Như vậy, tổng số tiền vợ chồng ch đóng góp xây dựng căn nhà số 155 là 60 000 000đ Nhưng ch T cũng không có chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Hơn nữa, phía anh N cũng xác nhận, năm 2009 khi ông K xây nhà, do không có tiền mặt nên vợ chồng có nhờ ông K vay 30 000 000đ để đóng góp vào việc xây dựng căn nhà 155
Do đó, Hội đồng xét xử xác đ nh công sức đóng góp của vợ chồng ch T và anh N đối với căn nhà là 30 000 000đ Theo biên bản đ nh giá tài sản ngày 04/12/2018, giá tr tài sản còn lại của căn nhà 155 là 68 , tương đương với số tiền là 221.656.608đ (làm tròn là 221 657 000đ) Như vậy, tại thời điểm xây dựng năm 2009, giá tr 100% của căn nhà là 325 966 000đ Do đó, lời trình bày của ông K về chi phí xây dựng căn nhà vào năm 2009 là 300 000 000đ là có căn cứ. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xác đ nh anh N và ch T đóng góp số tiền 30 000 000đ tại thời điểm xây dựng căn nhà năm 2009 tương đương là 10%. Hiện nay giá tr còn lại của căn nhà là 221 657 000đ (68 ) Do đó, công sức đóng góp còn lại của ch T là 221 657 000đ x 10% : 2 = 10 200 000đ Buộc ông K và bà B có trách nhiệm trả ½ công sức đóng góp của ch T vào việc xây dựng căn nhà là 10 200 000đ
Đối với ý kiến của anh N, thừa nhận vợ chồng có đóng góp vào việc xây dựng căn nhà số tiền là 30.000 000đ Tuy nhiên, anh N không có yêu cầu gì đối ông K và bà B Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Ch T và anh N xác đ nh không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về chi phí xem xét thẩm đ nh, đ nh giá là 800 000đ Ch T và anh N mỗi người ch u 50%. Ch T đã nộp 800 000đ, do đó anh N có trách nhiệm hoàn trả lại cho ch T 400 000đ
Về án phí: Anh N phải ch u 300 000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) và 5 120 250đ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá tr tài sản được chia gồm: căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá tr 01 ghe phân rơm.
Ch T phải ch u 5 120 000đ án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá tr tài sản được chia gồm: căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá tr 01 ghe phân rơm.
Ông K và bà B ch u 554 000đ án phí dân sự sơ thẩm trên phần công sức đóng góp phả trả lại cho ch T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 27, Điều 33, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
- Căn cứ Điều 33, 55, 58, 59, 62, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014;
- Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
Ban Thường Vụ Quốc Hội quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử :
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Trần Nhã N và ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T.
2. Về nuôi con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa anh Lê Trần Nhã N và ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T về việc nuôi con chung như sau:
Ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Quỳnh N2, sinh ngày 11/02/2002 (hiện đang sống với ch T).
Ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T không yêu cầu anh Lê Trần Nhã N cấp dưỡng nuôi con (Quỳnh N2).
Anh Lê Trần Nhã N có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.
Đối với con chung tên Lê Khánh N1, sinh ngày 18/02/1997, đã thành niên nên không đặt ra giải quyết.
3. Về chia tài sản chung:
Chấp nhận yêu cầu của ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T về việc yêu cầu anh Lê Trần Nhã N chia ½ tài sản chung là căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá tr 02 ghe phân rơm
Chấp nhận một phần yêu cầu của ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T về việc yêu cầu ông Lê Văn K và bà Trần Th B trả lại công sức đóng góp vào việc xây dựng căn nhà, khóm Q, phường D, thành phố S, Đồng Tháp.
Chia cho anh Lê Trần Nhã N được quyền sở hữu căn nhà không số (xây dựng trên thửa đất 110, tờ bản đồ 35, do ông Lê Văn K đứng tên), hiện anh N đang quản lý (kết cấu căn nhà có biên bản đ nh giá kèm theo).
Chia cho anh Lê Trần Nhã N được quyền sở hữu:
- Giàn bông kiểng phía trước gồm: Đà ngang (sắt) 90 cây, 10 nẹp thép 4m, 106 cây sắt loại 6m, 49 cây đà ngang gỗ loại 1,5m, 230 trụ gạch ống.
- Giàn bông kiểng phía trong phần đất gồm: 1170 trụ gạch ống, 585 cây đà ngang gỗ dài 0,9m, 98 cây gỗ tạp dài 12m, 14 giàn ống nhựa loại 4m, đố vuông loại 6m, 400m2 lưới che.
(Có biên bản thẩm đ nh tại chỗ và đ nh giá ngày 04/12/2018 kèm theo).
Anh Lê Trần Nhã N có trách nhiệm chia cho ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T ½ tr giá tài sản chung gồm căn nhà tạm, hoa kiểng, giàn bông kiểng, chi phí san lấp cát, san lấp bờ kè, giá tr 02 ghe phân rơm, tổng cộng là 102 405 000đ (Một trăm lẻ hai triệu, bốn trăm lẻ năm ngàn đồng)
Ông Lê Văn K và bà Trần Th B có trách nhiệm trả một ½ công sức đóng góp của ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T đối với căn nhà, khóm Q, phường D, thành phố S, Đồng Tháp sồ tiền là 10.200 000đ (Mười triệu hai trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, thì hàng tháng còn phải ch u tiền lãi bằng 50% mức lãi suất quy đ nh tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong.
4. Về nợ chung: Anh Lê Trần Nhã N và ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T xác đ nh không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
5. Về chi phí xem xét thẩm đ nh, đ nh giá : Số tiền 800 000đ Ch T và anh N mỗi người ch u 50%. Ch T đã nộp 800 000đ, do đó anh N có trách nhiệm hoàn trả lại cho ch T 400 000đ
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Lê Trần Nhã N phải ch u 300 000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) và 5.120.000 án phí dân sự sơ thẩm (về chia tài sản chung). Số tiền tạm ứng án phí anh N đã nộp 300 000đ theo biên lai thu số 0004633 ngày 27/6/2018 được trừ vào án phí phải nộp, anh N còn tiếp 5 120 000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố a Đ c, Đồng Tháp
Ch Nguy n Võ Hoàng Thanh T phải ch u 5 120 000đ án phí dân sự sơ thẩm (về chia tài sản chung). Số tiền tạm ứng ch T đã nộp là 6 250 000đ, theo biên lai số 0004849 ngày 17/9/2018 được trừ vào án phí phải nộp. Sau khi trừ tiền án phí, ch T được nhận lại 1 130 000đ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố a Đ c, Đồng Tháp
Ông Lê Văn K và bà Trần Th B ch u 554 000đ án phí dân sự sơ thẩm
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án..
| Nơi nhận: - Đương sự (03 bản); - Tòa án Tỉnh Đồng Tháp (01 bản) - Viện Kiểm sát nhân dân TP a Đ c (02 bản); - Chi cục Thi hành án Dân sự TP a Đ c (01 bản) - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng (04 bản); | TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Thủy |