- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Như H và chị Lã Thị M"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hôn nhân v g a đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T N NH N N C N H T NH H B NH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n n s : 3/2019/HNGĐ-PT Ng : 20/3/2019 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
N C C N H
H CHỦ N H
T N M
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Th m phán – Chủ t a phiên tòa: Bà Lý Thị oàn
- Các th m phán: Ông Lương ăn Can.
Ông Nguyễn Quang Tuấn
- Th ký ghi biên b n phiên tòa: B ỗ Thị Nhung - C n ộ t a n.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - m s t v n trung c p.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2 19 tạ trụ sở T a n nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công kha vụ n hôn nhân g a đình thụ lý s : 3/2 19/TLPT – HNGĐ ng 16 tháng 1 năm 2 19 về v ệc l hôn do có kh ng nghị của V ện k m s t nhân dân th nh ph Hòa Bình v có kh ng c o của ị đơn l chị Lã Thị M đ vớ n n hôn nhân g a đình sơ thẩm s 18/2018/LH-ST ngày 12/12/2018 của T a n nhân dân thành ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Theo Qu ết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm s : 03/2019/QĐPT – HNGĐ ng
26 tháng 2 năm 2 19 g ữa c c đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Như H, s nh năm 1979.
Địa chỉ: S nh 329, tổ 13, phường Hữu Nghị, Tp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
2. Bị đơn: Chị Lã Thị M, s nh năm 1984
Địa chỉ: S nh 329, tổ 13, phường Hữu Nghị, Tp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
3. Ng ời b o v quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lã Thị M: Ông Trần uân T. S nh năm 1964.
Luật sư thuộc Văn ph ng Luật sư Đồng Độ – Đo n Luật sư th nh ph H Nộ .
Địa chỉ: P27 8, T a nh VP3, n đ o L Đ m, Ho ng Ma , H Nộ .
4.Ng ời b o v quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Nh H: Ông Trần ũng . S nh năm 1955.
Luật sư thuộc Văn ph ng Luật sư Trần Dũng G – Đo n Luật sư tỉnh Hòa Bình.
Địa chỉ: S 66, tổ 11, phường Tân Thịnh, Tp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Anh H, chị M, Luật sư T, Luật sư G đều có mặt.
N
UN Ụ N:
Theo án sơ thẩm n i dung thể hiện như sau:
Nguyên đơn anh Nguyễn Như H trình bày:
Anh và chị Lã Thị M là vợ chồng hợp pháp từ năm 2 8, có đăng ký kết hôn tại ủy an nhân dân phường Hữu Nghị, Tp Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Mâu thuẫn vợ chồng n y sinh từ năm 2 16, do công v ệc bận rộn v l m ăn k nh tế thua lỗ nên vợ chồng nay sinh b t đồng quan đ m s ng. Từ tháng 10/2017, mâu thuẫn trở nên trầm trọng khi chị M đưa c c con ra ở r ng không được sự đồng ý của anh v g a đình anh. Xét th y tình c m vợ chồng không còn và không còn quan tâm gì tớ nhau n n anh đề nghị Tòa án gi i quyết cho anh được ly hôn với chị M.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Tu n V (sinh ngày 20/11/2011) và Nguyễn Khánh Ng (s nh ng
5/9/2 16). h l hôn, anh đề nghị được nuôi c hai cháu, nếu không được thì xin nuôi cháu V v đ chị M nuôi cháu Ng. Anh không yêu cầu chị M c p dưỡng nuôi con.
Về tài s n chung : Không yêu cầu Tòa án gi i quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn chị Lã Thị M có ý kiến như sau:
Việc kết hôn đúng như anh H nêu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung s ng hạnh phúc. Do đặc thù công việc anh H ph đ l m xa, ít có thời gian về quan tâm chăm sóc vợ con v g a đình nhưng chị vẫn thông c m. Từ năm 2 16, chị nghi ngờ anh H có bi u hiện s ng không chung thủy với vợ con; anh H có nợ nần bên ngoài mà chị không được biết. B n thân chị M không đồng ý l hôn, đồng ý tha thứ cho chồng đ giữ hạnh phúc g a đình.
Về con chung: Nếu ph i ly hôn, chị đồng ý quan đ m của anh H về việc nuôi con chung.
Về tài s n chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án gi i quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án gi i quyết.
T i Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 18/2018/HN - ST ngày 12/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Quyết định:
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội, quy định về án phí, l phí Tòa án tuyên:
Xử:
- Về quan h hôn nhân: anh Nguyễn Nh H đ ợc ly hôn chị Lã Thị M.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Tuấn V (sinh ngày 20/11/2011) và Nguyễn Khánh Ng (sinh ngày 05/9/2016). Khi ly hôn, giao cháu V cho anh H; giao cháu Ng cho chị M trực tiếp trông nom, nuôi d ỡng. Không bên nào ph i cấp d ỡng nuôi con chung.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai đ ợc c n trở; có quyền thay đổi quyền trực tiếp nuôi con và mức cấp d ỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Tòa án c p sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/12/2018, Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình kháng nghị B n án sơ thẩm s 18/2 18/HNGĐ-ST ng 12 th ng 12 năm 2 18 của Tòa án nhân dân thành ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về phần công nợ v đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm theo qu định của pháp luật.
Ng 18 tháng 12 năm 2 18, chị Lã Thị M có đơn kh ng c o to n ộ b n n v đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình gi i quyết theo hướng hủy toàn bộ b n n sơ thẩm s 18/2 18/HNGĐ-ST ng 12 th ng 12 năm 2 18 của Tòa án nhân dân thành ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo thủ tục t tụng chung.
Quá trình giải quyết vụ án t i cấp Phúc Thẩm các đương s đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau:
Anh H cung c p: Công văn s 10/CV-CNHB-KHBL ngày 13/02/2019 Ngân hàng TMCP Công thương V ệt Nam – Chi nhánh H Bình; Gi y xác nhận nợ đề ngày 10/02/2019 của anh Nguyên Nhật L; Gi y xác nhận nợ đề ngày 12/02/2019 của anh Nguyễn Như B.
Chị M cung c p: Gi y xác nhận nợ đề ng 15/3/2 19 ngườ l m đơn l Lã V ết Kh; Đơn x n x c nhận đề ng 15/3/2 19 Ngườ l m đơn l Lã V ết Kh.
Ngày 12/3/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình có công văn s 87/2019/CV-TA gửi Ngân h ng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình về việc anh H chị M tại thờ đ m xét xử phúc thẩm có kho n nợ nào tại Ngân hàng hay không? Ngày 19/3/2019 Ngân h ng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình có công văn tr lời s 123/CV-CNHB-KHBL nội dung xác nhận đến thờ đ m ngày 19/3/2019 ông Nguyễn Như H và bà Lã Thị M không còn b t cứ kho n vay nào tại Ngân hàng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình.
T i phiên tòa ph c thẩm:
Viện ki m sát nhân dân tỉnh H Bình giữ nguyên kháng nghị của Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình.
Chị Lã Thị M g ữ ngu n kh ng c o, tại phiên tòa chị M bổ sung yêu cầu Tòa án gi i quyết về phần tài s n chung và công nợ chung, đề nghị được nuôi hai con chung và yêu cầu anh H c p dưỡng nuôi con.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Lã Thị M nêu ý kiến:
Quá trình gi i quyết vụ án tại c p sơ thẩm T a n đã không xem xét, l m rõ c c v n đề cần ph i gi i quyết trong vụ án, đã vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục pháp luật, b n n sơ thẩm s 18/2 18/HNGĐ-ST ng 12 th ng 12 năm 2 18 của Tòa án nhân dân thành ph Hòa Bình không khách quan:
X c định thiếu tư c ch người tham gia t tụng, không xem xét, làm rõ các kho n nợ, là nợ chung hay nợ riêng của vợ chồng đ đưa chủ nợ tham gia t tụng vớ tư c ch l Người có quyền lợ v nghĩa vụ liên quan.
Ngày 10/12/2018 Luật sư đã gửi hồ sơ l m thủ tục đăng ký người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị M qua đường chuy n phát nhanh Viettelpost nhưng không được ch p nhận.
Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng anh H chị M là do anh H có d u hiệu ngoại tình, anh H không quan tâm đến chị M, xúc phạm chị M và còn có 02 con riêng bên ngoài.
Việc chăm sóc nuô dưỡng con chung là do một mình chị M đ m nhiệm, anh H không có thờ g an v đ ều kiện chăm sóc các cháu do anh H thường xu n đ công t c xa nhà, việc anh H có d u hiệu ngoạ tình cũng r t nh hưởng đến các cháu, Tòa án c p sơ thẩm đã cử người gi l m cô g o đ l y ý kiến cháu V là không khách quan. Việc Tòa án c p sơ thẩm giao cháu V cho anh H trực tiếp nuô dưỡng l không đ m b o quyền lợi cho cháu V.
Luật sư đề nghị Tòa án c p phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của chị M và hủy toàn bộ B n n sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành ph Hòa Bình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Như H nêu ý
kiến:
Về quan hệ hôn nhân và con chung: Mâu thuẫn giữa anh H và chị M đã trầm trọng, vợ chồng s ng l thân nhau đã hơn 1 năm, vợ chồng không còn tình c m và không còn quan tâm tới nhau. Về con chung: Tòa án c p sơ thẩm giao cháu V cho anh H trực tiếp nuô dưỡng l có cơ sở vì anh H là công chức nh nước, có thu nhập ổn định, hơn nữa quá trình gi i quyết vụ án Tòa án c p sơ thẩm đã l y ý kiến của cháu V và nguyện vọng cháu V mu n ở với b , Tòa án c p sơ thẩm giao cháu Ng cho chị M nuô dưỡng, chăm sóc l phù hợp vì cháu Ng còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần có sự chăm sóc, nuô dưỡng của người mẹ.
Về tài s n chung: Quá trình gi i quyết quyết vụ án tại c p sơ thẩm anh H và chị M tự thỏa thuận với nhau và không yêu cầu Tòa án gi i quyết, tại phiên tòa hôm nay chị M yêu cầu Tòa án gi i quyết về phần tài s n chung l không đúng, vượt quá phạm vi gi i quyết vụ án tại c p phúc thẩm, nếu có cơ sở chị M có quyền khởi kiện bằng vụ án yêu cầu chia tài s n chung của vợ chồng sau khi ly hôn.
Về nợ chung: Tại thờ đ m hiện tại anh H và chị M không có kho n nợ chung nào, Ngân h ng công thương V ệt Nam- Chi nhánh Hòa Bình cũng đã có Công văn x c nhận tại thờ đ m hiện tại anh H không còn kho n nợ nào tạ Ngân h ng. Đ i với kho n nợ anh Nguyễn Nhật L và ông Nguyễn Như B là kho n nợ riêng của cá nhân anh H, không l n quan gì đến chị M, anh L và ông B cũng đã có đơn đề nghị t a chưa có yêu cầu đ i với kho n nợ của anh H, khi nào cần sẽ đ anh H sau, do đó v ệc Tòa án không đưa các chủ nợ vào tham gia vớ tư c ch l Người có quyền lợ nghĩa vụ liên quan l đúng. Tại phiên tòa hôm nay chị M có trình
năm 2 14 v năm 2 15 vợ chồng có vay b vợ là ông Lã Viết Kh tổng s tiền 350 triệu đồng l không đúng, anh H xác nhận là không có kho n nợ chung này và cá nhân anh H không va mượn gì ông Kh, chị M cũng không trình
được kho n nợ này vay sử dụng vào việc gì nên không có cơ sở gì đ xem xét.
Đề nghị Tòa án c p phúc thẩm bác kháng nghị của Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình và bác toàn bộ kháng cáo của chị Lã Thị M, đề nghị giữ nguyên n n hôn nhân g a đình sơ thẩm s 18/2018/LHST ngày 12/12/2018 của Tòa án nhân dân thành ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
i diện iện iểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa nêu uan điểm: Về t tụng, thẩm ph n chủ tọa ph n t a, thư ký v những ngườ tham g a t tụng trong qu trình g qu ết vụ n đã tuân thủ đúng, đầ đủ những qu định của Bộ luật t tụng dân sự. Về nộ dung vụ n: Trong quá trình xét xử phúc thẩm Ngân hàng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình đã có công văn x c nhận đến thờ đ m ngày 19/3/2019 anh Nguyễn Như H và chị Lã Thị M không còn b t cứ kho n vay nào tạ Ngân h ng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình. Đề nghị Tòa bác kháng cáo của chị Lã Thị M và xem xét kháng nghị của Viện ki m s t theo qu định của pháp luật.
NHẬN ỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1].Xét kháng nghị của Vi n ki m sát nhân dân thành phố Hòa Bình về phần công nợ, Hội đồng xét xử phúc th m xét thấy:
Tạ ph n t a sơ thẩm và các lời khai trong hồ sơ v
n n H gi i đều th hiện chị M và anh H đề nghị phần tài s n và công nợ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án gi i quyết. Trong g a đoạn xét xử phúc thẩm anh H đã xu t trình: Một là Công văn s 10/CV-CNHB-KHBL ngày 13/02/2019 của Ngân h ng TMCP Công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình đã n u x c nhận việc anh H có nợ Ngân hàng s tiền g c là 165.5 . đồng (một trăm s u mươ lăm tr ệu, năm trăm nghìn đồng), lãi là 1.444.771 đồng nhưng tại thờ đ m hiện tạ chưa hết thời hạn Hợp đồng tín dụng nên chưa có ý k ến yêu cầu anh H ph i thanh toán toàn bộ nợ vay và xác nhận vẫn tiếp tục cho anh H tiếp tục thực hiện đúng những cam kết theo Hợp đồng tín dụng đã ký, Ng 12/3/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình có công văn s 87/2019/CV-TA gửi Ngân h ng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình về việc xác nhận anh H chị M tại thờ đ m xét xử phúc thẩm có kho n nợ nào tại Ngân hàng hay không? Ngày 19/3/2 19 Ngân h ng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình có công văn tr lời s 123/CV-CNHB-KHBL nội dung xác nhận đến thờ đ m ngày 19/3/2019 anh Nguyễn Như H và chị Lã Thị M không còn b t cứ kho n vay nào tại Ngân hàng công thương V ệt Nam – Chi nhánh Hòa Bình; Hai là Gi y xác nhận nợ đề ngày 10/02/2019 của anh Nguyên Nhật L s tiền l 1.2 . . đồng (một tỉ ha trăm tr ệu đồng); Ba là gi y xác nhận nợ đề ngày 12/02/2019 của ông Nguyễn Như B (b đẻ anh H) s tiền l 4.3 . . đồng (b n tỉ, a trăm tr ệu đồng). Ông B và anh L đều có ý kiến chưa yêu cầu Tòa gi i quyết, khi nào cần sẽ yêu cầu anh H tr sau.
Nên xét th y việc Tòa c p sơ thẩm không đưa c c chủ nợ tham gia với tư c ch l
người có quyền lợ v nghĩa vụ l n quan nhưng không l m nh hướng đến quyền lợi của họ, vì hiện tại ông B và anh L đều có đơn đề nghị Tòa không xem xét kho n nợ của anh H, khi nào cần sẽ yêu cầu anh H tr nợ sau.
Do đó Hộ đồng xét xử không ch p nhận kháng nghị của Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình về phần công nợ. Bác kháng nghị của Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình.
[2].Xét đơn kháng cáo của chị Lã Thị M:
Chị M cho rằng C p sơ thẩm không tuân thủ đúng qu định trình tự thủ tục t tụng của Bộ luật t tụng dân sự và Ngày 10/12/2018 Luật sư đã gửi hồ sơ l m thủ tục đăng ký người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị qua đường chuy n phát nhanh V ettelpost nhưng không được ch p nhận.
Hộ đồng xét xử xét th y về thủ tục t tụng Tòa án c p sơ thẩm đã tuân thủ đúng theo qu định của pháp luật từ Thụ lý vụ n cho đến kh đưa vụ án ra xét xử. Việc chị cho rằng Tòa án c p sơ thẩm không ch p nhận thủ tục luật sư cho chị, nhưng tại phiên t a sơ thẩm và phúc thẩm chị không có chứng cứ đ chứng m nh n n không có cơ sở đ xem xét.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của chị M về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Như H và chị Lã Thị M trong quá trình chung s ng n y sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng b t đồng quan đ m s ng. Vợ chồng s ng ly thân nhau từ tháng 10/2017 và không còn quan tâm tới nhau. Tại phiên tòa anh H kiên quyết xin ly hôn chị M. Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị l trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đờ s ng chung không th kéo d . T a n nhân dân th nh ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử cho anh H được l hôn chị M l có căn cứ. Chị M cho rằng anh H ngoạ tình v có con r ng đồng thời cung c p b n phô tô g m định AND nhưng không theo trình tự qu định của pháp luật n n không có cơ sở đ xem xét. N n không có cơ sở ch p nhận kháng cáo về quan hệ hôn nhân. Cần g ữ ngu n n sơ thẩm về quan hệ hôn nhân.
Tại phiên tòa phúc thẩm chị M xin được nuôi c hai con và yêu cầu anh H c p dưỡng.
Hộ đồng xét xử phúc thẩm xét th : Vợ chồng anh chị s nh được ha con Nguyễn Tu n V (sinh ngày 20/11/2011) và Nguyễn Khánh Ng (sinh ngày 05/9/2016). Việc Tòa án C p sơ thẩm xử g ao ch u V cho anh H nuô dưỡng chăm sóc l có căn cứ vì anh H là công chức nh nước, có thu nhập ổn định, hơn nữa trong quá trình gi i quyết vụ án Tòa n đã l y ý kiến của cháu V nguyện vọng được ở với b , Tòa án c p sơ thẩm giao cháu Ng cho chị M nuô dưỡng, chăm sóc là phù hợp vì cháu Ng còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ, không n n o ph c p dưỡng nuô con cho n n o l có căn cứ n n không có cơ sở ch p nhận kh ng c o của chị M về phần con chung, cần g ữ ngu n n sơ thẩm về quan hệ con chung.
Về tài s n chung: Quá trình gi i quyết vụ án tại c p sơ thẩm Anh H, chị M tự th ng nh t và thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án gi i quyết. Nên tại phiên tòa phúc thẩm chị M có yêu cầu Tòa án xem xét trong quá trình chung s ng anh chị có mua chung một vườn cam, Hộ đồng xét xử không ch p nhận, Chị M có quyền khởi kiện vụ án chia tài s n chung của vợ chồng sau khi ly hôn nếu có căn cứ.
Trong g a đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa: Chị M có trình
năm 2 14 v năm 2 15 vợ chồng có vay b vợ là ông Lã Viết Kh tổng s tiền 350 triệu đồng nhưng anh H không xác nhận và cho rằng đó l kho n nợ riêng của chị M, anh không biết. Chị M cũng không chứng m nh được s tiền vay 350 triệu này sử dụng vào mục đích chung. Hơn nữa trong gi y xác nhận nợ không có chữ ký của anh H. N n không có cơ sở đ xem xét.
Đ i với ý kiến của Luật sư Trần Xuân Tiền về việc cho rằng Tòa án c p sơ thẩm không ch p nhận Luật sư Người b o vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị M đồng thời không xét phần công nợ và tài s n của chị M là vi phạm t tụng, việc l y ý kiến của Cháu V l không đúng, anh H có d u hiệu ngoại tình và có con riêng là nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, b n n sơ thẩm không kh ch quan. Đề nghị Tòa án phúc thẩm ch p nhận kháng cáo của chị M và hủy b n n sơ thẩm.
Những ý kiến của Luật sư đưa ra l không có cơ sở, không có chứng cứ chứng m nh n n không có căn cứ ch p nhận kh ng c o đ hủy b n n sơ thẩm.
Từ những nhận định tr n, Hộ đồng xét xử không ch p nhận kh ng nghị của V ện k m s t nhân dân th nh ph Hòa Bình v không ch p nhận kh ng c o của chị Lã Thị M.
Về n phí: Chị Lã Thị M ph chịu n phí hôn nhân g a đình phúc thẩm.
Căn cứ kho n 1 Đ ều 3 8; kho n 1 Đ ều 148 Bộ luật t tụng dân sự năm 2 15.
QU T ỊNH:
Không ch p nhận kháng nghị của Viện ki m sát nhân dân thành ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và không ch p nhận kh ng c o của chị Lã Thị M.
G ữ ngu n n n hôn nhân g a đình sơ thẩm s 18/2018/LHST ngày 12/12/2018 của T a n nhân dân th nh ph Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Cụ th :
Áp dụng kho n 1 Đ ều 56, Đ ều 81, Đ ều 82, Đ ều 83, Đ ều 84 của Luật hôn nhân v g a đình; Nghị qu ết 326 của Ủ an thường vụ Qu c hộ về n phí lệ phí T a n, xử:
1. Ch p nhận u cầu x n l hôn của anh Ngu ễn Như H:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Như H được ly hôn chị Lã Thị M.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Tu n V (sinh ngày 20/11/2011) và Nguyễn Khánh Ng (sinh ngày 05/9/2016). Khi ly hôn, giao cháu V cho anh H; giao cháu Ng cho chị M trực tiếp trông nom, nuô dưỡng. Không bên nào ph i c p dưỡng nuôi con chung.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau l hôn không a được c n trở; có quyền tha đổi quyền trực tiếp nuôi con và mức c p dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
2. Về n phí:
Chị M ph chịu 3 . ( a trăm nghìn) đồng n phí ly hôn phúc thẩm, chị M đã nộp s tiền 3 . ( a trăm nghìn) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành ph Hòa Bình theo biên lai s 0005499 ngày 21/12/2018, na được đ i trừ.
B n n Hôn nhân g a đình phúc thẩm có h ệu lực ph p luật k từ ng tu n n 20/3/2019.
Nơi nh n:
| TM. H - TAND cấp cao t i HN - VKSND cấp cao t i HN - VKSND t nh Hòa Bình - TAND TP H Bình - Cục THADS TP H Bình - Các đ ơng sự - L u HS | N T PH C TH M TH M PH N – CHỦ TỌ PH N T Lý Thị oàn |