- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NH C - A"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc anh Nguyễn Khắc A phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc là 30.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/DS - ST Ngày: 24/5/2019 V/v Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Thu Dung.
2/ Ông Lê Thanh Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2018/TLST - DS, ngày 20 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST - DS, ngày 10/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2019/QĐST - DS, ngày 03/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện M giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C
Địa chỉ: Tòa nhà C5, khu B, quận H, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T; chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh N; chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch ngân hàng C theo Quyết định ủy quyền số: 4716/QĐ – NHCS, đề ngày 25/11/2016 của Tổng giám đốc Ngân hàng C
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc A
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 02 (hai) không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2018; các lời khai và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/12/2013 anh Nguyễn Khắc A có vay vốn tại Ngân hàng C huyện M với số tiền là 30.000.000đ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay để chăn nuôi bò sinh sản, thời hạn vay là 36 tháng hạn trả nợ cuối cùng là vào ngày 30/12/2016. Lãi suất cho vay là 0,65%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 0,845%/tháng, tiền lãi được trả định kỳ hàng tháng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Nguyễn Khắc A không thực hiện đúng các điều khoản đã được thỏa thuận, Ngân hàng đã gia hạn thêm 14 tháng, hạn trả nợ cuối cùng là ngày 23/02/2018 nhưng đến nay anh A vẫn chưa thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng. Số tiền vay nợ 30.000.000đ được chuyển nợ quá hạn từ ngày 24/02/2018
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, anh Nguyễn Khắc A còn nợ ngân hàng C số tiền cả gốc lẫn lãi là 34.885.300đ. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu anh A trả dứt điểm nợ vay cho Ngân hàng nhưng anh A không trả mà cố tình kéo dài làm ảnh hưởng đến quá trình thu hồi nợ vay cho Nhà nước.
Do đó, Ngân hàng C khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện M yêu cầu anh A phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 34.885.300đ, trong đó: số tiền nợ gốc là 30.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 1.049.000đ, tiền lãi quá hạn là 3.836.300đ và tiền lãi phát phát sinh cho đến khi anh A thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 24/12/2013.
Bị đơn là anh Nguyễn Khắc A: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt cũng như không nộp cho Tòa văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cung cấp chứng cứ cho Tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc anh A phải trả cho Ngân hàng C tính đến ngày 24/5/2019 số tiền 34.885.300đ, trong đó số tiền nợ gốc là 30.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 1.049.000đ , tiền lãi quá hạn là 3.836.300đ và tiền lãi phát phát sinh cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận. Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn thông qua thủ tục niêm yết công khai theo quy định tại 179 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) nhưng bị đơn không có mặt để tham gia tố tụng. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về nội dung vụ án
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngày 26/12/2013, Ngân hàng C đã giải Ngân cho anh Nguyễn Khắc A vay số tiền 30.000.000đ để chăn nuôi bò sinh sản, thời hạn vay là 36 tháng (26/12/2013 - 26/12/2016); phân kỳ trả: Nợ gốc tiền vay được trả vào 3 kỳ, lãi tiền vay trả định kỳ hàng tháng; Lãi suất tiền vay: 0,65%/tháng, lãi suất quá hạn 0,845%/tháng; hạn trả cuối cùng là ngày 23/02/2018 sau khi đã được Ngân hàng gia hạn 14 tháng.Thỏa thuận của các bên là hợp pháp.
Đến nay đã quá hạn trả nợ, theo quy định tại Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015, HĐXX thấy rằng: Ngân hàng C yêu cầu anh A phải trả số nợ tính đến ngày 24/5/2019 (ngày xét xử sơ thẩm) là 34.885.300đ, trong đó: số tiền nợ gốc là 30.000.000đ, tiền lãi trong hạn là 1.049.000đ, tiền lãi quá hạn là 3.836.300đ và tiền lãi phát sinh cho đến khi anh A thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 24/12/2013 là có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định: “Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận” cụ thể: 34.885.300đ x 5% = 1.744.265đ (làm tròn 1.744.000đ) theo đó, anh Nguyễn Khắc A phải chịu án phí số tiền 1.744.000đ. Ngân hàng C không phải chịu tiền án phí.
Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 463, 465, 466, 468, 470 và Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc anh Nguyễn Khắc A phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc là 30.000.000đ và tiền lãi đến ngày 24/5/2019 là 4.885.300đ, trong đó: tiền lãi trong hạn là 1.049.000đ, tiền lãi quá hạn là 3.836.300đ .Tổng cộng anh Nguyễn Khắc A phải trả cho Ngân hàng C cả gốc và lãi số tiền là 34.885.300đ (Ba mươi bốn triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm đồng) và tiếp tục trả các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 25/5/2019 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thoả thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 24/12/2013.
[2] Về án phí: Anh Nguyễn Khắc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 1.744.000đ (Một triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng). Ngân hàng C không phải chịu tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2019), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hànhán dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Thành viên Hội đồng xét xử: Nguyễn Thị Thu Dung Lê Thanh Sơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Bích Vân |