- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "LONG - LIEN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phi L về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Số: 03/2019/DS-ST Ngày: 07-01-2019 V/v: Tranh chấp di sản thừa kế |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hùng Dƣơng;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 tháng 11 năm 2018, ngày 02 và 07 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 135/2018/TLST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 145/2018/QĐXXST-DS ngày 24/9/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2018/QĐST-DS ngày 19/10/2018; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 23/2018/QĐ-ST ngày 07/11/2018, thông báo mở lại phiên tòa số 23/TA-TB ngày 05/12/2018; giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phi L, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 51/20, Khu phố 2, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Đặng Thị Mộng H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 172/6/18, Tổ 10, Khu phố 5, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B (văn bản ủy quyền ngày 02/5/2018), có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1965; địa chỉ: Số 11/12, Khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B, vắng mặt.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1952; địa chỉ: Số 47/20, Khu phố 2, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
+ Bà Nguyễn Thị Mộng N, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 35/2, Tổ 2, Khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
+ Ông Trần Thanh D, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 51/12, Khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
+ Bà Trần Thị Kim S, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 364 đƣờng P, Khu phố 3, phƣờng H, thành phố T, tỉnh B.
+ Bà Trần Thị G, sinh năm 1969; địa chỉ: Số 45/12, Khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà L, bà N, ông D, bà S, bà G: Bà Đặng Thị Mộng H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số 172/6/18, Tổ 10, Khu phố 5, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B (văn bản ủy quyền ngày 02/5/2018), có mặt.
+ Ông Trần Duy T, sinh năm 1956; địa chỉ: Số 1/510, khu 7, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B, có đơn xin vắng mặt.
+ Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1953, có đơn xin vắng mặt;
+ Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1975, có đơn xin vắng mặt;
+ Ông Trần Thanh V, sinh năm 1979, có đơn xin vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số 13/12, khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Cha bà L là ông Trần Văn T, sinh năm 1916 đã chết ngày 15/02/1999 theo Giấy chứng tử số 85, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân phƣờng T cấp ngày 12/7/1999. Mẹ bà L là bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1928, chết ngày 24/4/2004 theo Giấy chứng tử số 130, quyển số 01 do UBND phƣờng T cấp ngày 19/11/2004.
Ông T và bà G có tất cả 07 ngƣời con, gồm:
Ông Trần Văn C, sinh năm 1950 (chết năm 2004). Ông C gồm có vợ tên là Huỳnh Thị Q, sinh năm 1953 và 02 con tên Trần Thị Mỹ T, sinh năm 1975 và Trần Thanh V, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 13/12, Khu phố 1, phƣờng T, thành phố T, tỉnh B.
Bà Trần Thị L, sinh năm 1952;
Ông Trần Duy T, sinh năm 1956;
Bà Trần Thị Phi L, sinh năm 1959;
Ông Trần Văn D, sinh năm 1962 (chết năm 2011). Ông D có vợ tên Nguyễn Thị Mộng N, sinh năm 1962 và 02 con tên Trần Thanh D, sinh năm 1985 và Trần Thị Kim S, sinh năm 1987.
Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1965;
Bà Trần Thị G, sinh năm 1969.
Ngoài những ngƣời con trên, ông T và bà G có 03 ngƣời con đã chết từ lúc nhỏ chƣa có vợ con, ngoài ra không còn ngƣời con nào khác. Ông T và bà G chết không để lại di chúc.
Khi còn sống ông T và bà G có tạo lập đƣợc 03 phần đất:
Đối với phần đất diện tích 2.500m2 tọa lạc tại phƣờng H, thành phố T do ông Trần Văn T đứng tên: Phần đất này bà G và các anh chị em của bà L đã bán cho ông L năm 2003 và phần đất tọa lạc tại phƣờng T, khi còn sống ông T đã cho ông Trần Duy T và ông Trần Văn C, hiện ông T và con ông C đang quản lý sử dụng, bà L không có tranh chấp.
Đối với phần đất diện tích 2.006m2, trong phần đất này đã chia cho ông Trần Duy T và ông Trần Văn C một phần, diện tích đo đạc thực tế còn lại 1.594,4m2. Trên phần đất này hiện nay có 03 căn nhà của bà Trần Thị Kim L, ông Trần Văn D, bà Trần Thị G.
Ngoài những tài sản này, ông T và bà G không còn tài sản nào khác.
Hiện nay, các anh em có nhu cầu sử dụng, nhƣng bà L cản trở và không đồng ý chia. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu chia phần đất đo đạc thực tế thành 05 phần: Bà L yêu cầu đƣợc chia diện tích 396,1m2 (trong đó có 60,26m2 là lối đi chung). Bà L yêu cầu đƣợc nhận phần của mình bằng hiện vật. Phần còn lại chia cho 04 ngƣời là bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị L, ông Trần Văn D, bà Trần Thị G.
* Bị đơn bà Trần Thị Kim L trình bày: Bà L thống nhất với ý kiến của nguyên đơn về hàng thừa kế của ông T và bà G và tài sản mà ông T, bà G để lại.
Khi còn sống cha mẹ bà L có tạo lập đƣợc 03 phần đất:
Phần đất thứ nhất tại phƣờng H, diện tích 2.500m2 do ông Trần Văn T đứng tên, phần đất này đã bán cho ông L vào năm 2003.
Phần đất thứ hai tại xã T, diện tích bao nhiêu bà không biết, khi còn sống ông T có cho ông Trần Duy T và ông Trần Văn C, ông T và ông C đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất riêng không liên quan đến phần đất tranh chấp 2.006m2, hiện ông T và vợ con ông C đang quản lý, sử dụng.
Phần đất thứ ba: Diện tích đang tranh chấp do ông T đứng tên có gắn liền ngôi nhà của cha mẹ, hiện nay không còn ngôi nhà này nữa do những ngƣời con khác đã bán ngôi nhà, phần đất này hiện nay diện tích còn lại không biết bao nhiêu do xung quanh lấn đất. Hiện nay, trên phần đất này có 03 ngôi nhà gồm nhà của bà Trần Thị G, ông Trần Văn D và nhà của bà L, ngoài ra không còn ngôi nhà nào khác.
Sau khi ông T, bà G chết thì bà L và những ngƣời con khác đã khởi kiện yêu cầu chia thừa kế vào năm 2008. Bà L và các anh chị em thống nhất chia diện tích đất đang tranh chấp theo giấy chứng nhận là 2.006m2 thành 05 phần cho bà L, bà Trần Thị L, ông Trần Văn D, bà Trần Thị G, bà Trần Thị Phi L mỗi ngƣời một phần bằng nhau và phải chia theo hiện trạng sử dụng đất của mỗi ngƣời, có chừa đƣờng đi chiều ngang 2m vào đến đất từng ngƣời.
Sau khi thống nhất thỏa thuận rút đơn về để phân chia đất nhƣng các bên không thống nhất đƣợc với nhau đến hiện nay chƣa giải quyết đƣợc.
Trƣớc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà L đồng ý chia theo quy định của pháp luật, nhƣng phải đảm bảo cho bà L có đƣờng đi vào nhà, đây là đất hƣơng hỏa nên không mua bán, bà L sẽ giữ gìn thờ cúng.
* Bà Đặng Thị Mộng H là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trần Thị L, bà Nguyễn Thị Mộng N, ông Trần Thanh D, bà Trần Thị Kim S, bà Trần Thị G: Thống nhất với phần trình bày của đại diện nguyên đơn và không trình bày gì thêm.
* Theo đơn xin vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Duy T trình bày: Về yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Phi L đối với bà Trần Thị Kim L, ông T không có ý kiến và yêu cầu gì khác vì ông T đã đƣợc cha mẹ ông T là ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị G phân chia cho ông T 02 phần tài sản trong đó có 01 phần đất tọa lạc tại phƣờng T và 01 phần tiền có đƣợc do bán đất tọa lạc tại phƣờng H, thành phố T, tỉnh B. Đối với phần đất do cha mẹ ông T để lại nhƣng chƣa phân chia mà hiện nay bà L đang tranh chấp với bà L thì ông T từ chối nhận đối với phần tài sản này
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Q, bà Trần Thị Mỹ T, ông Trần Thanh V trình bày trong đơn xin vắng mặt: không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Phi L và bà Trần Thị Kim L vì chồng bà Q, cha của bà T, ông V là ông Trần Văn C, sinh năm 1950 (chết năm 2004) đã đƣợc ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị G phân chia cho ông C 02 khối tài sản trong đó có 01 phần đất tọa lạc tại phƣờng T và 01 phần tiền có đƣợc do bán đất tọa lạc tại phƣờng H, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B. Đối với phần đất do ông T để lại nhƣng chƣa phân chia mà hiện nay bà L đang tranh chấp với bà L thì bà Q, bà T, ông V không có ý kiến và từ chối nhận đối với phần tài sản này.
* Qua đo đạc, phần đất đang tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 1.696,9m2 (trong đó có 300m2 thổ cƣ). Trên đất có các tài sản nhƣ:
+ 01 ngôi nhà cấp 4 (vách tƣờng xây, nền gạch men, mái tole) do bà G xây dựng. Phía trƣớc nhà có 02 mái che tạm bằng cột gỗ, mái ngói âm dƣơng + mái tole (dùng để nấu rƣợu); 01 giếng đóng; 01 bàn thiên; 01 nhà tắm (gạch xây không tô chiều cao 1,5m; mái giấy dầu) của bà G; 01 mái che tạm (mái ngói âm dƣơng, vách gạch xây lửng).
+ 01 căn nhà cấp 4 vách tƣờng xây, nền xi măng, mái tole do ông D xây (có 01 vách tƣờng chung với nhà của bà G).
+ 01 căn nhà cấp 4: vách tƣờng, mái tole, nền gạch men do bà L xây dựng + 01 mái che (cột gạch, kèo sắt, mái tole, nền xi măng).
+ 01 chuồng heo (vách gạch, nền xi măng, mái giấy dầu + tole đã cũ); 01 sân bê tông; 01 bàn thiên (bằng gạch).
+ 01 miếu thờ kết cấu: mái tole, vách tƣờng (một phần ốp gạch men), nền gạch men.
Một số cây trái: 10 cây chuối, 08 cây dừa, 08 cây cau, 02 cây ổi, 03 cây khế, 02 cây mận, 01 cây mít; 01 bụi trúc (30 cây). Ngoài ra còn một số cây tự mọc.
Theo biên bản định giá ngày 06/9/2018, đất thổ cƣ có giá 2.000.000đ/01m2; đất nông nghiệp có giá 1.000.000đ/01m2.
Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn yêu cầu chia phần đất theo đo đạc thực tế cho 05 ngƣời theo quy định của pháp luật, phần miếu thờ có trên đất là do bà L, bà L và bà Mộng N cùng hùn để xây dựng, hiện nay không có ý kiến và yêu cầu gì đối với phần miếu thờ này; đồng thời yêu cầu đƣợc chia theo hiện trạng đƣơng sự đang sử dụng, nếu phần chia giữa nhà bà G và ông D có dính vào tài sản của nhau thì bồi hoàn giá trị nhà, đối với các phần đất đƣợc chia theo hiện trạng có sự chênh lệch nếu không quá 50m2 thì không phải bù hoàn cho nhau; đƣơng sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì khác và vẫn giữ nguyên quan điểm của mình; không yêu cầu đo đạc, định giá lại tài sản tranh chấp.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trƣớc khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng đƣợc quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thƣ ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những ngƣời tham gia tố tụng nhƣ đại diện nguyên đơn, đại diện ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ để làm việc, hòa giải, tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát không kiến nghị gì khác.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa các đƣơng sự là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có địa chỉ cƣ trú tại phƣờng T, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a, c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Trần Thị Kim L đƣợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do; những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Duy T, bà Huỳnh Thị Q, bà Trần Thị Mỹ T, ông Trần Thanh V có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những ngƣời nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về mối quan hệ nhân thân: Ông Trần Văn T, sinh năm 1916 (chết ngày 15/02/1999 theo Giấy chứng tử số 85, quyển số 02 do Ủy ban nhân dân phƣờng T cấp ngày 12/7/1999) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1928 (chết ngày 24/4/2004 theo Giấy chứng tử số 130, quyển số 01 do UBND phƣờng T cấp ngày 19/11/2004) là vợ chồng. Ông T và bà G có 07 ngƣời con, gồm: Ông Trần Văn C (chết năm 2004), bà Trần Thị L, ông Trần Duy T, bà Trần Thị Phi L, ông Trần Văn D (chết năm 2011), bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị G. Ngoài những ngƣời con trên, ông T và bà G có 03 ngƣời con đã chết từ lúc nhỏ, ngoài ra không còn ngƣời con nào khác. Ông T và bà G chết không để lại di chúc.
[2.2] Về tài sản: Ông T và bà G khi còn sống tạo lập đƣợc 03 phần đất, trong đó phần đất tại phƣờng H, diện tích 2.500m2 đã bán vào năm 2003; một phần đất tại xã T, khi còn sống ông T có cho ông Trần Duy T và ông Trần Văn C, ông T và ông C đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; và phần đất tại phƣờng T theo đo đạc thực tế là 1.696,9m2 hiện đang có tranh chấp (trên phần đất này có 03 ngôi nhà gồm nhà của bà Trần Thị G, ông Trần Văn D và nhà của bà L).
Ngoài tài sản trên, ông T và bà G không còn tài sản nào khác.
Các đƣơng sự đều thống nhất về mối quan hệ huyết thống, tài sản do ông T và bà G tạo lập cũng nhƣ phần di sản hiện đang tranh chấp. Do đó, đây là những tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.3] Trong quá trình phát sinh tranh chấp, quá trình làm việc bị đơn bà L cũng đồng ý chia theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhƣng bà L không đến.
Nhƣ đã nêu trên, các đƣơng sự đều thống nhất phần di sản còn lại chƣa chia của ông T và bà G là phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.696.9m2, trên đất này hiện có 03 ngôi nhà gồm nhà của bà Trần Thị G, ông Trần Văn D và nhà của bà Trần Thị Kim L xây dựng.
Ông T và bà G có 07 ngƣời con, tuy nhiên hiện nay 02 ngƣời con thuộc hàng thừa kế là ông Trần Văn C (chết năm 2004), những ngƣời thừa kế của ông C là vợ tên Huỳnh Thị Q và 02 con tên Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh V, cũng nhƣ ông Trần Duy T đều từ chối nhận phần di sản này vì cho rằng đã đƣợc ông T, bà G chia những phần đất khác. Đây là sự tự nguyện nên ghi nhận.
Vì vậy, phần đất hiện nay đang tranh chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy là 01521 QSDĐ/TA ngày 29/12/1998 do Ủy ban nhân dân thị xã Thủ Dầu Một cấp cho ông Trần Văn T diện tích 2.006,1m2 (đo đạc thực tế hiện nay có diện tích 1.696,9m2) theo yêu cầu của nguyên đơn chia cho 05 kỷ phần còn lại gồm bà Trần Thị L, Trần Thị Phi L, Trần Thị G, những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D (gồm bà N, ông D, bà S), và bà Trần Thị Kim L theo quy định của pháp luật là có căn cứ chấp nhận.
Theo hiện trạng đo đạc thực tế, phần đất hiện nay có đƣờng đất (có đoạn 01m, có đoạn hơn 01m) chạy dọc theo hƣớng Đông và Nam của khu đất đến đƣờng bờ rạch, mặc dù theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T không thể hiện lối đi, nhƣng đƣờng đất này trên thực tế hiện hữu và tất cả các đƣơng sự đều sử dụng, thừa nhận lối đi từ trƣớc đến nay. Vì vậy, cần giữ nguyên hiện trạng thực tế. Đồng thời khi chia sẽ xem xét đến phần mở rộng thêm lối đi cho phù hợp đến phần đất các đƣơng sự đƣợc phân chia.
Nhƣ vậy, 05 ngƣời đƣợc chia với mỗi ngƣời đƣợc hƣởng phần diện tích đất (sau khi trừ diện tích đƣợc chia để sử dụng chung làm lối đi là 61,9m2, diện tích còn lại để chia là 1.635m2), tƣơng ứng mỗi ngƣời đƣợc 327m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ) trị giá là 387.000.000đ. Do trên đất có hiện trạng của 03 ngôi nhà và một số công trình phụ của bà Trần Thị G, ông Trần Văn D và nhà của bà Trần Thị Kim L nên khi chia sẽ xem xét theo hiện trạng sử dụng. Nguyên đơn và những ngƣời liên quan thống nhất nếu chia có sự chênh lệch về diện tích sử dụng dƣới 50m2 thì không phải bù hoàn cho nhau nên ghi nhận ý kiến này. Đồng thời trên đất có 01 miếu thờ 2m2 do bà L, bà L xây dựng, hiện nay các đƣơng sự này không có ý kiến gì, trƣờng hợp phân chia cho ngƣời nào sử dụng có miếu thờ các đƣơng sự tự thỏa thuận về việc quản lý, sử dụng.
[2.4] Nhƣ đã phân tích, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để chia thừa kế theo pháp luật cho 05 ngƣời gồm bà Trần Thị L, bà Trần Thị G, những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D, bà Trần Thị Phi L và bà Trần Thị Kim L đối với phần đất của ông T và bà G để lại chƣa chia. Cụ thể phân chia nhƣ sau:
- Bà Trần Thị L, bà Trần Thị G, những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D, bà Trần Thị Phi L và bà Trần Thị Kim L đƣợc cùng quản lý, sử dụng phần diện tích 61,9m2 để làm lối đi chung (vị trí số 1 trên sơ đồ kèm theo).
- Bà Trần Thị G đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 308,55m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ), khu đất có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi;
Phía Tây giáp đất ông Trần Phƣớc H;
Phía Nam giáp đất ông D đƣợc chia;
Phía Bắc giáp đất ông Trần Văn Ú.
(Ký hiệu số 2 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 (vách tƣờng xây, nền gạch men, mái tole) do bà G xây dựng. Phía trƣớc nhà có 02 mái che tạm bằng cột gỗ, mái ngói âm dƣơng + mái tole (dùng để nấu rƣợu); 01 giếng đóng; 01 bàn thiên; 01 nhà tắm (gạch xây không tô chiều cao 1,5m; mái giấy dầu) của bà G; 01 mái che tạm (mái ngói âm dƣơng, vách gạch xây lửng) và 01 ngôi nhà cấp 4 vách tƣờng xây, nền xi măng, mái tole do ông D xây (có vách chung với bà G) có diện tích 26,8m2 có giá trị là (1.840.000đ/01m2 x 60%= 29.587.200đ), bà G có trách nhiệm thanh toán giá trị ngôi nhà cho những đồng thừa kế của ông D và đƣợc quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà này.
- Những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D (gồm bà Nguyễn Thị Mộng N, ông Trần Thanh D và bà Trần Thị Kim S) đƣợc quản lý, sử dụng phần đất có tổng diện tích 326,55m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi;
Phía Tây giáp phần đất ông Ú, bà H;
Phía Nam giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi + đất bà L đƣợc chia;
Phía Bắc giáp đất bà G.
(Ký hiệu số 3 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Trên phần đất của ông D đƣợc chia có 01 ngôi miếu thờ do bà L, bà L xây dựng. Các đƣơng sự thống nhất tự thỏa thuận.
- Bà Trần Thị L đƣợc chia phần đất có diện tích 315,5m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất của bà L;
Phía Tây giáp phần đất bà L đƣợc chia;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi.
(Ký hiệu 4 trên sơ đồ kèm theo)
- Bà Trần Thị Phi L đƣợc chia phần đất có diện tích 343,20m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất của bà L;
Phía Tây giáp phần đất bà H;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất ông D đƣợc chia.
(Ký hiệu 5 trên sơ đồ kèm theo)
- Bà Trần Thị Kim L đƣợc chia phần đất có diện tích 341,20m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất đƣờng đi bờ rạch;
Phía Tây giáp phần đất bà L đƣợc chia;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi.
Trên phần đất của bà L đƣợc chia có nhà, nhà tạm và chuồng heo của bà L xây dựng.
(Ký hiệu 6 trên sơ đồ kèm theo)
* Đối với các cây trái, tài sản khác có trên phần đất các đƣơng sự đƣợc phân chia, đƣợc công nhận thì các đƣơng sự đƣợc quyền quản lý, sử dụng.
* Các đƣơng sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục theo quy định của pháp luật để đƣợc cấp quyền sử dụng đối với tài sản đƣợc chia.
[2.8] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng số tiền là 5.487.561đ (năm triệu bốn trăm tám mƣơi bảy ngàn năm trăm sáu mƣơi mốt đồng) bà H (đại diện nguyên đơn) đã nộp tạm ứng. Nguyên đơn đồng ý nộp 1.487.561 đồng đƣợc trừ vào tạm ứng đã nộp; Bà G; những ngƣời thừa kế của ông D; bà L; bà L mỗi ngƣời phải nộp 1.000.000đ (một triệu đồng) để hoàn trả cho nguyên đơn.
[2.9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: các đƣơng sự phải chịu án phí trên phần tài sản đƣợc chia.
[2.10] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a, c Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 264, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 117, 119, 457, 459, 609, 610, 611, 612, 623, 624, 625, 626, 630, 643, 688 Bộ luật Dân sự 2015;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phi L về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.
1- Xác định di sản do ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị G để lại các đƣơng sự tranh chấp phần đất tại phƣờng T theo đo đạc thực tế là 1.696,9m2, đƣợc phân chia cho 05 ngƣời thừa kế của ông T là Trần Thị Phi L, Trần Thị L, Trần Thị G, Trần Thị Kim L và những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D (gồm bà Nguyễn Thị Mộng N, ông Trần Thanh D, bà Trần Thị Kim S), cụ thể nhƣ sau:
- Bà Trần Thị L, bà Trần Thị G, những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D (gồm bà Nguyễn Thị Mộng N, ông Trần Thanh D, bà Trần Thị Kim S), bà Trần Thị Phi L và bà Trần Thị Kim L đƣợc cùng quản lý, sử dụng phần diện tích 61,9m2 để làm lối đi chung (vị trí số 1 trên sơ đồ kèm theo).
- Bà Trần Thị G đƣợc quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 308,55m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ), khu đất có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi;
Phía Tây giáp đất ông Trần Phƣớc H;
Phía Nam giáp đất ông D đƣợc chia;
Phía Bắc giáp đất ông Trần Văn Ú.
(Ký hiệu số 2 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Trên đất bà G đƣợc chia có 01 ngôi nhà cấp 4 (vách tƣờng xây, nền gạch men, mái tole) do bà G xây dựng. Phía trƣớc nhà có 02 mái che tạm bằng cột gỗ, mái ngói âm dƣơng + mái tole (dùng để nấu rƣợu); 01 giếng đóng; 01 bàn thiên; 01 nhà tắm (gạch xây không tô chiều cao 1,5m; mái giấy dầu), 01 mái che tạm (mái ngói âm dƣơng, vách gạch xây lửng) của bà G;
Bà G có trách nhiệm thanh toán giá trị ngôi nhà cấp 4 vách tƣờng xây, nền xi măng, mái tole do ông D xây (có 01 vách chung với bà G) có diện tích 26,8m2 cho những đồng thừa kế của ông D là 29.587.200đ (hai mƣơi chín triệu năm trăm tám mƣơi bảy ngàn hai trăm đồng) và bà G đƣợc quyền sở hữu, sử dụng ngôi nhà này.
- Những ngƣời thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Trần Văn D (gồm Nguyễn Thị Mộng N, Trần Thanh D và Trần Thị Kim S) đƣợc quản lý, sử dụng phần đất có tổng diện tích 326,55m2 (trong đó có 60m2 đất thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi;
Phía Tây giáp phần đất ông Ú, bà H;
Phía Nam giáp phần đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi + đất bà L đƣợc chia;
Phía Bắc giáp đất bà G.
(Ký hiệu số 3 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo)
Trên phần đất của ông D đƣợc chia có 01 ngôi miếu thờ do bà L, bà L xây dựng. Các đƣơng sự thống nhất tự thỏa thuận.
- Bà Trần Thị L đƣợc chia phần đất có diện tích 315,5m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất của bà L;
Phía Tây giáp phần đất bà L đƣợc chia;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi.
(Ký hiệu 4 trên sơ đồ kèm theo)
- Bà Trần Thị Phi L đƣợc chia phần đất có diện tích 343,20m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất của bà L;
Phía Tây giáp phần đất bà H;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất ông D đƣợc chia.
(Ký hiệu 5 trên sơ đồ kèm theo)
- Bà Trần Thị Kim L đƣợc chia phần đất có diện tích 341,20m2 (trong đó có 60m2 thổ cƣ), có tứ cận:
Phía Đông giáp phần đất đƣờng đi bờ rạch;
Phía Tây giáp phần đất bà L đƣợc chia;
Phía Nam giáp đƣờng bờ rạch;
Phía Bắc giáp đất các đƣơng sự đƣợc chia chung để làm lối đi.
(Ký hiệu 6 trên sơ đồ kèm theo)
Trên phần đất của bà L đƣợc chia có nhà, nhà tạm và chuồng heo của bà L xây dựng.
2- Các đƣơng sự có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền lập thủ tục theo quy định của pháp luật để đƣợc cấp quyền sử dụng đối với tài sản đƣợc chia.
3- Đối với các cây trái, tài sản khác trên phần đất các đƣơng sự đƣợc phân chia, đƣợc công nhận thì các đƣơng sự đƣợc quyền quản lý, sử dụng.
4 - Kiến nghị Ủy ban nhân dân Thủ Dầu Một thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy là 01521 QSDĐ/TA ngày 29/12/1998 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp cho ông Trần Văn T để cấp cho các đƣơng sự đƣợc phân chia nhƣ trên theo quy định.
5- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị G, những ngƣời thừa kế của ông D (bà N, ông D, bà S), bà L, bà L có trách nhiệm liên đới nộp số tiền án phí sơ thẩm 3.095.000đ (ba triệu không trăm chín mƣơi lăm ngàn đồng).
- Bà Trần Thị Phi L phải nộp số tiền 20.128.000đ (hai mƣơi triệu một trăm hai mƣơi tám ngàn đồng) đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai thu số AA/2016/0021991 ngày 10/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một. Bà L còn phải nộp 15.128.000đ.
- Bà Trần Thị G phải nộp án phí sơ thẩm số tiền 18.427.500đ (mƣời tám triệu bốn trăm hai mƣơi bảy ngàn năm trăm đồng).
- Bà Trần Thị L phải nộp án phí sơ thẩm số tiền 18.775.000đ (mƣời tám triệu bảy trăm bảy mƣơi lăm ngàn đồng).
- Bà Trần Thị Kim L phải nộp án phí sơ thẩm số tiền 20.048.000đ (hai mƣơi triệu không trăm bốn mƣơi tám ngàn đồng).
- Những ngƣời thừa kế của ông Trần Văn D (bà Nguyễn Thị Mộng N, Trần Thanh D và Trần Thị Kim S) cùng có trách nhiệm nộp số tiền án phí sơ thẩm là 19.327.500đ (mƣời chín triệu ba trăm hai mƣơi bảy ngàn năm trăm đồng).
6- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng số tiền là 5.487.561 đồng bà H (đại diện nguyên đơn) đã nộp tạm ứng. Bà L đồng ý nộp 1.487.561đ đƣợc trừ vào tạm ứng đã nộp; Bà G; những ngƣời thừa kế của ông D; bà L; bà L mỗi ngƣời phải nộp 1.000.000đ (một triệu đồng) để hoàn trả cho nguyên đơn.
7. Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án Dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.
9. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc đƣợc tống đạt hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - Đƣơng sự; - UBND TP Thủ Dầu Một; - Lƣu: Hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |