- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản — án dân sự — "Tranh chấp đất đai"
- Tòa quyết gì? ¸p dông khoản 9 §iÒu 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; §iÒu 100, §iÒu 101 LuËt ®Êt ®ai n¨m 2013.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/DS-ST. Ngày 19 tháng 7 năm 2019 V/v: Tranh chấp quyÒn sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH – TỈNH CAO BẰNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông La Văn Viên. Các Hội thẩm nhân dân: 1, Ông Nông Thế Hạp
2, Ông Hoàng Văn Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà C«ng ThÞ Xu©n - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 09/2019/TLST- DS, ngµy 09 th¸ng 4 n¨m 2019. về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nông Văn T, sinh năm 1949 Trú tại: xãm L N- x· C V - huyện T K - tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Nông Văn C, sinh năm 1958 Trú tại: xãm L N - x· C V - huyện T K - tỉnh Cao Bằng.
- Ngưêi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan: Bà Nông Thị N
Trú tại: xãm L N - x· C V - huyện T K - tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng: ông Triệu Quốc M Trú tại: xãm L N - x· C V - huyện T K - tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 3 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nông văn T trình bày:
Nguồn gốc đất hiện nay tranh chấp năm 1996 tôi (T) mua một đám rẫy với ông Nông Văn P thửa đất số 244 diện tích 1.096,4m2 tờ bản đồ số 87 và canh tác đến nay đã được 23 năm.
Về tứ cận của đám rẫy: Phía Tây giáp rẫy bác Tâm (Đám rẫy chia đôi) phía Bắc giáp vườn cây ông Nông Văn B, phía Nam giáp rẫy Nông Thị C, phía Đông giáp rẫy Nông Văn T, Nông Văn Ả, Nông Văn T .
Mốc rẫy giáp bờ vườn cây ông Nông Văn B kéo thẳng đến bờ rẫy bà Nông Thị C mốc rộng 25cm sâu dài 30cm, Mốc này gia đình ông Nông Văn C đã phá đi và lẫn chiếm sang đám rẫy của tôi chiều rộng 7,8 mét chiều dài 20 mét tổng diện tích ông C lẫn chiếm sang đất của tôi là 156 m2, ngày 16 tháng 02 năm 2019 tôi đi trồng ngô thì ông C đi can ngăn không cho tôi trồng. sau khi sự việc sảy ra tôi có báo cáo xóm, xã và được Ủy ban nhân dân xã gọi lên để hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ông C trả lại phần đất mà tôi đã mua với ông Nông Văn P.
Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa,bị đơn ông Nông Văn C trình bµy: Nguồn gốc đất hiện nay đang tranh chấp là của bố mẹ tôi để lại tôi là người thừa kế, từ lúc còn nhỏ tôi đã được theo bố mẹ canh tác trồng trọt trên đám rẫy này. Tự nhiên ông T xuống nhà tôi xem sổ đỏ và đi chặt tỉa cành cây tôi không đồng ý, ông T bảo là ông đã mua với ông P, cuối năm 2016 ông Thính lại bảo tôi chặt cành cây hạt dẻ, mà cây hạt dẻ tôi trồng trên đất của tôi.
Sau khi sự việc sảy ra ông T có báo chính quyền xã và được xã Chí Viễn hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được nên ông T khởi kiện tôi ra Tòa.
Nay ông T yªu cầu tôi trả đất cho ông tôi không đồng ý vì đó là đất của bố mẹ tôi để lại tôi yêu cầu Tòa án giải quyết theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngưêi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan bà Nông Thị N tr×nh bµy: Tôi (N) lµ ngưêi cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan trong vô ¸n “Tranh chÊp quyÒn sö dông ®Êt”. Tôi quan hÖ víi «ng T lµ người cùng xóm với nhau cßn quan hệ với ông C tôi là Thím.
VÒ nguån gèc thửa đất hiện nay ông T và ông C ®ang tranh chÊp lµ cña vợ chồng tôi. Năm1996 gia đình cần tiền nên đã bán cho ông Hoàng Văn T một đám rẫy với số tiền là 900.000đ, lúc bán có lập biên bản và có ông Triệu Quốc M làm chứng và cùng nhau ký vào biên bản. gia đình tôi đã bán cho ông Thính nên ông T được quyền canh tác quản lý và sử dụng.
Người làm chứng: ông Triệu Quốc M trình bày năm 1996 tôi làm trưởng xóm Lũng Nội tôi có được chứng kiến ông Nông Văn P và ông Nông Văn T mua bán đất, khi mua bán có lập biên bản và tôi cùng ông Tâm đại diện trưởng họ có được ký vào biên bản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh phát biểu quan điểm: Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng, về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 100, Điều 101 Luật đất đai năm 2013; Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
ChÊp nhËn yªu cÇu khëi kiÖn cña ông Nông Văn T yªu cÇu ông Nông Văn C trả lại đất cho ông T.
Về án phí : Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án ông C phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án về quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp về quyền sử dụng đất. Về thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy đinh tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh. Ngoài ra bị đơn có nơi cư trú tại xóm L N - x· C V - huyện T Kh - tỉnh Cao Bằng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc tranh chấp đất giữa các bên đương sự: Xét về nguồn gốc đất, nguyên đơn ông T khai nhận nguồn gốc đất hiện nay tranh chấp năm 1996 ông T mua một đám rẫy với ông Nông Văn P thửa đất số 244 diện tích 1.096,4m2 tờ bản đồ số 87 và canh tác đến nay đã được 23 năm. Ngày 16 tháng 02 năm 2019 ông T đi trồng ngô thì ông C can ngăn không cho trồng. Đối víi bÞ ®¬n «ng Nông Văn C cũng cho rằng phần đất hiÖn nay ®ang tranh chÊp lµ cña bè mÑ ông ®Ó l¹i ông chØ lµ ngưêi thõa kÕ. từ lúc còn nhỏ ông đã được theo bố mẹ canh tác trồng trọt trên đám rẫy này.
Qua xem xét, thẩm định tại chỗ tại nơi xảy ra tranh chấp được xác định:
Phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế có diện tích 233m2, thuộc thửa đất số 261 tờ bản đồ số 87 và một phần diện tích của thửa 244, tại xãm Lũng Nội, x· Chí Viễn, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
Về tứ cận:
- Phía đông giáp rẫy Nông Văn T, Nông Văn Ả và Nông Văn T có chiều dài 11,6 mét;
- Phía tây giáp rẫy Nông Văn C 11,7 mét;
- Phía nam giáp rẫy Nông Thị C có chiều dài 20 mét;
- Phía bắc giáp vườn cây Nông Văn B có chiều dài 20 mét.
Hội đồng xét xử thấy rằng thửa đất hiện nay đang tranh chấp là đám rẫy của ông Nông Văn P là em trai ruột của ông Nông Văn T là (Bố của anh C). Ông P và ông T là hai anh em ruột đã được chia đôi ông Nông Văn T được thửa đất số 219 và 260 tờ bản đồ số 87 có tổng diện tích là 1.100,6m2; ông Nông Văn P được thửa 244 và thửa 261 tờ bản đồ số 87 có tổng diện tích là 1.218,3m2. Năm 1996 ông Nông Văn Phù đã bán đám rẫy này cho ông Nông Văn T và ông T đã canh tác từ đó đến nay. Quá trình sử dụng ông T chưa làm thủ tục chuyển nhượng nên chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 16/02/2019 ông Nông Văn C đến tranh chấp 233m2 không cho ông T canh tác thì xảy ra tranh chấp và đã được UBND xã Chí Viễn giải quyết nhưng không thành nên ông Nông Văn T làm đơn lên Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết được xác định về nguồn gốc đất là của ông Nông Văn P đã bán thửa đất số 244 và thửa đất số 261 nằm trong tờ bản đồ số 87 cho ông Nông Văn T từ năm 1996. Nay ông C tranh chấp các thửa đất trên là không có căn cứ. Mặc dù hai thửa đất trên về nguồn gốc là của bố mẹ của các ông Nông Văn T và ông Nông Văn P, nhưng ông T và ông p đã chia nhau mỗi người một nửa và mỗi người quản lý và sử dụng riêng.
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Nông Văn T đòi lại quyền sử dụng đất một phần của thửa đất số 244 và thửa đất số 261 nằm trên bản đồ số 87 có tổng diện tích là 233m2 là có căn cứ cần được chấp nhận. Yêu cầu anh C trả lại phần diện tích đất nói trên cho ông P.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản ý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn:
QUYẾT ĐỊNH:
¸p dông khoản 9 §iÒu 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; §iÒu 100, §iÒu 101 LuËt ®Êt ®ai n¨m 2013.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
1. ChÊp nhËn ®¬n khëi kiÖn cña «ng Nông Văn T vÒ viÖc yªu cÇu «ng Nông Văn C trả lại ®Êt cho «ng lµ ®óng ph¸p luËt.
2. Buéc ông Nông Văn C trả lại một phần của thửa đất sè 244 và toà n bộ thửa đất số 261, tê b¶n ®å sè 87 có tổng diện tích là 233m2 cho ông Nông Văn T.
Về tứ cận:
- Phía đông giáp rẫy Nông Văn T, Nông Văn Ả và Nông Văn T có chiều dài 11,6 mét;
- Phía tây giáp rẫy Nông Văn C 11,7 mét;
- Phía nam giáp rẫy Nông Thị C có chiều dài 20 mét;
- Phía bắc giáp vườn cây Nông Văn B có chiều dài 20 mét.
Ông Nông Văn T ®ưîc quyÒn qu¶n lý vµ sö dông 02 thửa đất sè 244 và 261 tê b¶n ®å sè 87 diÖn tÝch 1.218,3m2. (Có sơ đồ đo đạc thực địa vị trí tranh chấp kèm theo)
3. VÒ ¸n phÝ: ông Nông Văn C ph¶i nép 300.000® (Ba tr¨m ngh×n ®ång) tiÒn ¸n phÝ s¬ thÈm d©n sù ®Ó sung c«ng quü Nhµ nưíc.
Ông Nông Văn T ®ưîc hoµn l¹i 300.000® (Ba tr¨m ngh×n ®ång) tiÒn t¹m øng ¸n phÝ ®· nép t¹i Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn Trïng Kh¸nh theo biªn lai sè AA/2018/ 0002177 ngµy 09/4/2019.
4. B¸o cho c¸c ®ư¬ng sù vµ người cã quyÒn lîi, nghÜa vô liªn quan ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n s¬ thÈm trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./. * Nơi nhận:
| - Toµ D©n Sù TAND tỉnh; - Phßng KiÓm tra nghiÖp vô TAND tỉnh; - VKSND TK; - THADS - TK; - UBND xã C V; - Các bên đương sự; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | T/M HéI §åNG XÐT Xö S¥ THÈM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) La Văn Viên |