- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Từ Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2018/HSST Ngày 30 - 01 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường.
Các h i thẩm nh n d n:
1. Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.
2. Ông Mlô Y Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Anh Dũng – Thư ký Toà án nhân dân thị
Bu n H , t nh Đắk Lắk.
- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n th x u n Hồ, t nh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Ng Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 30/01/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thị Bu n H , mở phiên toà ét ử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 01/2018/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số 03/2018/QĐXXST-HS ngày 17/01/2018 đối với bị cáo:
TỪ QUỐC D (Tên gọi khác: C), sinh ngày 13/4/1996, tại t nh Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường T, thị B, t nh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Từ Quốc D1, sinh năm 1970, con bà Cao Thị M, sinh năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/11/2017, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ c ng an thị Bu n H , có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Võ Đình S; Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã B, t nh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và bản cáo trạng, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ Quốc D là người nghiện ma tuý. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/11/2017 D đón e Buýt từ Chùa T, thuộc phường T, thị B đến thành phố B1, t nh Đắk Lắk để mua ma tuý về sử dụng. Khi đến thành phố B1, D uống e r i đi bộ trên đường Y Th thuộc phường Tân L, thành phố B1 gặp một người đàn ông tên H khoảng 30 tuổi (kh ng rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy. D đưa cho H số tiền 300.000 đ ng thì H đưa cho D 01 gói giấy bạc chứa 01 cục chất rắn màu trắng và 01 gói nylon trong suốt bên trong chứa các cục chất rắn màu trắng r i D bỏ gói giấy bạc vào trong vỏ bao thuốc lá Craven và cất vào túi quần. Sau đó, D đón e Buýt về lại thị B r i đi bộ về nhà ở số 41 Bùi X, TDP Đ, phường T, thị B và cất giấu gói ma túy vừa mua được ở dưới gầm giường trong phòng ngủ của mình. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thị Bu n H thi hành lệnh bắt và khám ét khẩn cấp đối với D và thu giữ 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Craven bên trong đựng 01 gói giấy bạc chứa 01 cục chất rắn màu trắng và 01 gói nylon trong suốt có kích thước 02 02 cm bên trong chứa các cục chất rắn màu trắng, D khai nhận đó là chất ma túy Hêrôin.
Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an thị Bu n H thu giữ: 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Craven, bên trong đựng 01 gói giấy bạc chứa 01 cục chất rắn màu trắng và 01 gói nylon trong suốt có kích thước 02 02 cm bên trong chứa các cục chất rắn màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 724/GĐMT-PC54 ngày 10/11/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an t nh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói giấy bạc và 01 gói nylon trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,3097 gam, loại Hêrôin.
Bản cáo trạng số 02/KSĐT-HS, ngày 03/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị Bu n H đ truy tố bị cáo Từ Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền c ng tố luận tội và tranh luận: Từ Quốc D đ có hành vi tàng trữ 0,3097gam ma tuý, loại ma tuý là Heroin. Hành vi của Từ Quốc D là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Từ Quốc D và đề nghị Hội đ ng ét ử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 ử phạt bị cáo Từ Quốc D từ 02 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy khối lượng 0,2662 gam chất ma tuý (Heroin) còn lại sau giám định.
Bị cáo kh ng tranh luận, bào chữa gì, trong phần lời nói sau cùng bị cáo in Hội đ ng ét ử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ được thẩm tra, ét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đ ng ét ử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C ng an thị
Bu n H , Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị Bu n H , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Từ Quốc D đ có hành vi tàng trữ 0,3097 gam ma tuý, loại ma tuý là Heroin. Hành vi của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, tuy nhiên theo quy định tại Nghị quyết số 41 của Quốc hội khoá 14 và khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, về áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi của bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có mức hình phạt nhẹ hơn, nên cần áp dụng cho bị cáo. Như vậy đ có đủ căn cứ để kết luận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị Bu n H đối với bị cáo Từ Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thu c m t trong các trường hợp sau đ y, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho hội, kh ng những trực tiếp âm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về mà tuý mà còn âm phạm trật tự an toàn hội và là nguyên nhân của những hành vi nguy hiểm khác cho hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Thiệt hại do ma tuý gây ra kh ng những gây hại về trước mắt đối với những người sử dụng chất ma tuý mà còn gây hại đến toàn cộng đ ng, tác động của nó ảnh hưởng ấu và lâu dài cho hội. Đặc biệt tội phạm về ma tuý đang diễn biến phức tạp và là hiểm hoạ của toàn cầu. Vì vậy cần ử lý nghiêm minh, áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và buộc bị cáo phải cách ly khỏi hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Trong vụ án này đối tượng tên Hùng bán Heroin cho bị cáo, nhưng bị cáo kh ng biết cụ thể nhân thân, lai lịch địa ch của người này. Cơ quan Cảnh sát điều tra đ tiến hành điều tra, ác minh làm rõ nhân thân lai lịch nhưng kh ng có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục ác minh điều tra làm rõ nếu có đủ căn cứ thì ử lý sau.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy khối lượng 0,2662 gam chất ma tuý (Heroin) còn lại sau giám định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì c c lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Từ Quốc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Từ Quốc D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (06/11/2017).
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy khối lượng 0,2662 gam chất ma tuý (Heroin) còn lại sau giám định.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội.
Bị cáo Từ Quốc Dương phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND t nh Đắk Lắk; - VKSND thị Bu n H ; - C ng an thị Bu n H ; - Chi cục THADS thị Bu n H ; - Bị cáo, đương sự; - Lưu HS, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đ ký) Đinh Th Hường |