vanban.org

Bản án 03/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 16/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp d ng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt: Nguyễn Duy S 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hư ng án treo với thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (16/01/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/HSST
Ngày: 16/01/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, T. BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thọ.

2. Bà Trương Thị Kim Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại tr s Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số 96/2017/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 98/2017/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2017/HSST-QĐ ngày 28/12/2017, đối với bị cáo:

NGUYỄN DUY S – Sinh năm 1974 tại Hà Tĩnh.

Hộ khẩu thường trú: Xóm 3, xã A, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Chỗ : Tổ 3, ấp Bắc 3, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy K (chết) và bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1945, chung sống như vợ chồng với bà Hoàng Thị Hồng N – sinh năm 1975 và 01 con sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo đang tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Phạm Đ - sinh năm: 1945 (đã chết ngày 24/6/2017)

Đại diện hợp pháp gia đình người bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị V – sinh năm 1923 là mẹ của ông Phạm Đ (vắng mặt).

Trú tại: Thôn Hữu Phước, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2. Bà Phạm Thị Ngọc Á – sinh năm 1975 là con ruột của ông Phạm Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Thôn Hữu Phước, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Bà Phạm Thị Thanh S – sinh năm 1977 là con ruột của ông Phạm Đ (vắng mặt)

Trú tại: 863/11 Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, quận 9, TP. Hồ Chí Minh.

4. Bà Phạm Thị Hồng V – sinh năm 1980 là con ruột của ông Phạm Đ (vắng mặt)

Trú tại: Nhân Hòa, Tây Hòa, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

5. Ông Phạm Minh Q – sinh năm 1986 là con ruột của ông Phạm Đ (có mặt)

Trú tại: Thôn Hữu Phước, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

6. Ông Phạm Thanh S – sinh năm 1989 là con ruột của ông Phạm Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Thôn Hữu Phước, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

7. Bà Phạm Thị Ngọc G – sinh năm 1993 là con ruột của ông Phạm Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Trú tại: Thôn Hữu Phước, xã Suối Nghệ, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Hồng N– sinh năm 1975.

Trú tại: Tổ 3, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt)

Người làm chứng: Ông Huỳnh Ngọc S, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Trú tại: Ấp Bắc 2, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 ngày 24/6/2017, Nguyễn Duy S điều khiển xe ô tô biển số 72L-2902 trên đường Quốc lộ 56 theo hướng từ thành phố Bà Rịa đi huyện Châu Đức, khi đến đoạn đường giao nhau giữa Quốc lộ 56 và đường số 13 thuộc ấp Bắc 2, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, S cho xe chuyển hướng rẽ trái vào đường số 13 thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 72F1-072.11 do ông Phạm Đ điều khiển đang đi trên Quốc lộ 56 theo hướng từ huyện Châu Đức đi thành phố Bà Rịa. Hậu quả ông Phạm Đ bị thương nặng và tử vong tại Bệnh viện Bà Rịa.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 188/PC54-Đ4 ngày 17/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận: Phạm Đ chết do chấn thương ngực kín: Gãy xương ức, gãy xương sường, dập phổi, vỡ gốc động mạch, xuất huyết nội. Lực tác động gây chấn thương là do vật tày diện tiếp xúc rộng, tác động trực tiếp lên vùng ngực cơ thể nạn nhân hướng từ trước ra sau.

Hiện trường v tai nạn:

- Hiện trường v tai nạn giao thông là đoạn đường thuộc km44 + 800 Quốc lộ 56 (Giao lộ đường QL 56 - đường số 13 - đường số 14) thuộc ấp Bắc 2, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, khu vực ngoại thị, là đường hai chiều có vạch S kẻ đứt quãng màu vàng chia đường thành hai chiều xe riêng biệt, mỗi chiều có hai làn xe được phân cách bằng vạch kẻ S đứt quãng. Mặt đường trải bê tông nhựa bằng phẳng, thẳng, đường rộng 12m, mỗi chiều rộng 6m, làn trong cùng sát lề rộng 2,5m. Đường số 13 trải nhựa cấp phối rộng 06m.

- Lấy mép đường bên phải Quốc lộ 56 theo chiều từ Châu Đức đi Bà Rịa làm lề chuẩn khám nghiệm. Lấy cột biển báo tên đường QL56 giao với đường số 13 làm điểm mốc cố định.

- Xe mô tô biển số 72F1-072.11 sau tai nạn ngã đổ về bên trái nằm trên mặt đường QL56 thuộc chiều đường từ huyện Châu Đức đi thành phố Bà Rịa. Tâm tr c bánh xe phía sau cách đường tiếp tuyến của lề đường bên phải đường số 13 theo hướng ra QL56 là 0,2m, cách lề chuẩn là 5,7m. Tâm tr c bánh xe phía trước cách lề chuẩn là 5,3m.

- Vết máu nạn nhân tại hiện trường nằm trên quốc lộ 56 thuộc chiều đường đi thành phố Bà Rịa, có kích thước 0,2 x 0,3m. Tâm vết máu cách lề 3,6m và cách xe mô tô biển số 72F1-072.11 là 02m.

- Xe ô tô biển số 72L-2902 sau tai nạn đỗ trên mặt đường số 13, đầu xe hướng về khu dân cư thuộc ấp Bắc 2, xã Hòa Long, đuôi xe hướng về quốc lộ 56. Tâm tr c bánh xe phía trước bên phải cách lề phía bên trái đường số 13 (theo chiều nhìn ra quốc lộ 56) là 0,2m. Tâm tr c bánh xe phía sau bên phải cách lề phía bên trái đường số 13 (theo chiều nhìn ra quốc lộ 56) là 1,4m và cách lề chuẩn là 2,5m. Tâm tr c bánh xe phía sau bên trái cách lề chuẩn là 03m, cách vết máu là 6,6m, cách xe mô tô biển số 72F1-072.11 là 8,5m.

- Khoảng cách từ điểm mốc đến tâm tr c bánh xe ngoài cùng phía sau bên trái của xe ô tô biển số 72L-2902 là 6,5m, đến vết máu nạn nhân là 7,5m và đến xe mô tô biển số 72F1-072.11 là 8,6m.

- Điểm đ ng được xác định nằm trên phần đường bên phải Quốc lộ 56 theo chiều từ huyện Châu Đức đi TP Bà Rịa, cách xe mô tô biển số 72F1-072.11 1,4m, cách đầu vết máu nạn nhân 1,4m, cách mép đường bên phải Quốc lộ 56 là 4,1m, cách bánh sau bên trái xe ô tô biển số 72L-2902 là 7,5m, cách điểm mốc là 07m.

Nguyên nhân gây tai nạn là do Nguyễn Duy S điều khiển xe ô tô biển số 72L-2902 lưu thông trên Quốc lộ 56 hướng từ Bà Rịa đi Châu Đức, khi đến ngã tư giao lộ giữa Quốc lộ 56 với đường số 13, 14 thuộc ấp Bắc 2, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, S điều khiển xe rẽ trái vào đường số 13 không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe lưu thông theo chiều ngược lại, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết 01 người.

Đối với người bị nạn ông Phạm Đ điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, không có giấy phép lái xe là vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Duy S đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như mô tả trên.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinaxuki biển số 72L-2902 do bà Hoàng Thị Hồng N đứng tên trên giấy đăng ký xe, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Bà Rịa đã giao trả xe cho bà N; giao trả 01 xe mô tô hiệu Citicup biển số 72F1-072.11 cho đại diện hợp pháp của ông Phạm Đ là ông Phạm Minh Q.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Nguyễn Duy S đã bồi thường toàn bộ số tiền 75.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân, hiện những người thừa kế của ông Đ không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Duy S.

Tại bản Cáo trạng số 107/QĐ-KSĐT ngày 28/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Duy S về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy S đã thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giữ quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999 tuyên phạt bị cáo Nguyễn Duy S từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hư ng án treo với thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Bị cáo Nguyễn Duy S nói lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại, bị cáo rất hối hận mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và đại diện hợp pháp bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2.] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố t ng khác; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ v án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 ngày 24/6/2017, Nguyễn Duy S điều khiển xe ô tô biển số 72L-2902 lưu thông trên Quốc lộ 56 theo hướng từ thành phố Bà Rịa đi huyện Châu Đức, khi đến đoạn đường giao nhau giữa Quốc lộ 56 và đường số 13 thuộc ấp Bắc 2, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, do khi chuyển hướng rẽ trái bị cáo không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã gây ra tai nạn với xe mô tô biển số 72F1-072.11 do ông Phạm Đ điều khiển đang lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả ông Phạm Đ tử vong.

Nguyên nhân chính gây ra tai nạn là do bị cáo S điều khiển xe ô tô không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả làm chết 01 người. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn và trật tự giao thông đường bộ, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác và gây đau thương mất mát cho gia đình người bị hại. Bị cáo là người đã trư ng thành, với nghề nghiệp là tài xế bị cáo thường xuyên tham gia giao thông, bị cáo nhận thức rất rõ hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có thể sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản của bản thân và những người tham gia giao thông khác và sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm minh. Nhưng vì cẩu thả, thiếu tập trung nên bị cáo đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn. Do vậy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo giáo d c bị cáo đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tích cực đưa người bị hại đi cấp cứu; bị cáo đã cùng với chủ xe bồi thường toàn bộ chi phí theo yêu cầu của gia đình người bị hại; gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng có bà nội là mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ ruột là thương binh; hoàn cảnh gia đình khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị hại cũng có một phần lỗi do không có giấy phép lái xe và điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử d ng rượu bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Từ đó, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hư ng án treo cũng đủ tác d ng giáo d c và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT công an thành phố Bà Rịa đã giao trả 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinaxuki biển số 72L-2902 cho chủ s hữu là bà Hoàng Thị Hồng N; giao trả 01 xe mô tô hiệu Citicup biển số 72F1-072.11 cho đại diện hợp pháp của ông Phạm Đ là ông Phạm Minh Q là phù hợp với các quy định của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng chủ xe đã bồi thường cho gia đình bị hại 75.000.000 đồng, hiện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Duy S phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp d ng khoản 1 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Nguyễn Duy S 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hư ng án treo với thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án (16/01/2018).

Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát giáo d c trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát giáo d c bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

+ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/01/2018), bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền và nghĩa v liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đại diện hợp pháp gia đình người bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ