- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––– Bản án số: 03/2018/ HS - ST Ngày 19 - 01 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đức Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Anh Tuấn
Bà Nguyễn Thị Bích Hường
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Đại Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2017/TLST - HS, ngày 27 tháng 12 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 24/02/1987
Nơi đăng ký NKTT: xóm NC, xã NH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp:
Sửa chữa xe máy; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quốc H, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T, sinh năm 1964. Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Lý Thị Kiều T, sinh năm 1996, có 01 chung sinh năm 2016; tiền án: không, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2017 tại nhà tạm giữ lưu giam Công an huyện Đồng Hỷ,tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1959 - Vắng mặt.
Trú tại: Xóm NC, xã NH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên Nguyễn Mạnh H thường xuyên mua hêrôin về để sử
dụng cho bản thân. Tối ngày 08/10/2017 H đi ra khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Hêrôin với giá 500.000 đồng, sau đó chia thành nhiều gói nhỏ để dùng dần.
Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 09/10/2017 H đang ở nhà tại xóm NC, xã
NH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên, thì có người đàn ông lạ mặt (H không biết tên và địa chỉ) đến hỏi mua phụ tùng xe máy. Qua nói chuyện biết H là người nghiện ma túy nên người đàn ông này đã hỏi mua Hêrôin của H. Sau khi trao đổi H đã đồng ý bán cho người đàn ông này 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Hêrôin. H nhận tiền của người đàn ông trên rồi đi vào nhà lấy Hêrôin ra để bán nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ bắt quả tang thu giữ tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong có chất bột màu trắng (H khai nhận đó là Hêrôin). Ngoài ra còn thu giữ tại túi quần phía sau bên phải H đang mặc số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, còn người đàn ông kia bỏ chạy thoát. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Mạnh H và thu giữ vật chứng, gồm: 02 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong đều chứa chất bột màu trắng và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Hồi 14 giờ 20 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Nguyễn Mạnh H kết quả khám xét đã phát hiện thu giữ: 02 (hai) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Hêrôin (thu giữ tại ngăn trên cùng của tủ kính phía bên trái từ cửa chính đi vào nhà ở của H).
Tiến hành cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của H khi
bắt quả tang là: 0,166 gam (lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định – ký hiệu A1); số chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét là: 0,208 gam (lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định – ký hiệu A2).
Tại bản kết luận giám định số: 1083/KL - PC54 ngày 15/10/2017 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:
+ Số chất bột màu trắng trong mẫu A1 gửi giám định thu giữ của Nguyễn
Mạnh H là chất ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng (khối lượng): 0,166 gam;
+ Số chất bột màu trắng trong mẫu A2 gửi giám định thu giữ của Nguyễn
Mạnh H là chất ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng (khối lượng): 0,208 gam
Vật chứng vụ án gồm: 03 (ba) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu:
A1, A2, LK là vật chứng của vụ án. Đối với số tiền 300.000 đồng công an thu giữ của bị cáo là tiền bị cáo bán hêrôin cho người đàn ông không quen biết mà có.
Tại bản cáo trạng số 02/ KSĐT - MT ngày 25/12/2017, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma
túy đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau khi
phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng:
- Khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình
sự năm 1999, xử phạt bÞ c¸o Nguyễn Mạnh H tõ 30 đến 36 tháng tï. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước;
- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999: Tịch
thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, A2 và LK; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng do bị cáo bán ma túy mà có.
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, trong phần lời nói sau cùng bị cáo xin
được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố cơ quan
điều tra,Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Đồng Hỷ, trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là khách
quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án như: Biên bản phạm tội quả tang, Bản kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập trong quá trình điều tra. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 09/10/2017 tại nhà của Nguyễn Mạnh H, thuộc xóm NC, xã NH, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên, H đang có hành vi tàng trữ 0,166 gam Hêrôin thì bị cơ quan Công an huyện Đồng Hỷ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H đã thu giữ 0,208 gam Hêrôin. Toàn bộ số Hêrôin bị thu giữ H tàng trữ với mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy
hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng là đối tượng nghiện
chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều
tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Khi lượng hình hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ nguy hiểm của
hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cất giữ ma tuý với mục đích để sử dụng cho
bản thân và để bán kiếm lời nên cần áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, phạt bổ sung là phạt tiền đối với bi cáo để sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106
- Đối với 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, A2 và LK là
vật chứng của vụ án tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo, đây là số tiền do phạm tội
mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
nộp sung quỹ Nhà nước, theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Đối với người thanh niên mua ma túy của H, khi công an bắt quả tang đã bỏ
chạy thoát, nhưng H không biết tên, tuổi địa chỉ ở đâu nên cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ xác minh, xử lý. Còn đối với người đàn ông H khai đã bán ma túy cho H ở khu vực bến xe khách Thái Nguyên cũ, H không biết tên, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đồng Hỷ không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ
luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Nguyễn Mạnh H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày
09/10/2017. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kế
từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1, A2
và LK
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho và tài khoản của chi cục
thi hành án huyện Đồng Hỷ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2018 và ủy nhiệm chi số 02 ngày 15/01/2018).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười
lăm) ngày, kể từ ngày tuyên bản án theo quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đồng Hỷ; - Công an huyện Đồng Hỷ; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - T.H.A DS huyện Đồng Hỷ; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Đức Thuận |