- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H "Mua bán trái phép chất ma túy" khoản 1 Điều 194 BLHS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Na…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 03/2018/HS-ST Ngày: 12-01-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Thanh Hoàng.
2. Bà: Trần Thị Đổi.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Quốc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Mẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2017/HS-ST, ngày 22 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2017/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1986, tại Long An.
Nơi cư trú: Ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không nghề nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc Tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị Kim Th; Vợ tên Nguyễn Thị Bé N; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 15/10/2017 đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ ánvà diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 15 tháng 10 năm 2017, tại ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, lực lượng Công an huyện Đức Hòa bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho 02 đối tượng tên Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1989, trú tại ấp M, xã O, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và Nguyễn Văn S, sinh năm 1990, trú tại ấp M, xã O, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Tang vật chứng tạm giữ gồm:
02 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt thu giữ trong người của Huỳnh Thanh T1.
Số tiền 400.000 đồng thu giữ trong người của bị cáo Nguyễn Văn H.
Qua điều tra xác định, khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 15/10/2017, bị cáo H đang ở nhà tại ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì có Huỳnh Thanh T1 gọi điện thoại cho bị cáo H hỏi mua 02 bịch ma túy với giá 200.000 đồng/1bịch. Bị cáo H đồng ý và hẹn gặp T1 tại bờ kênh nổi thuộc địa phận ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để giao nhận ma túy. Khi bị cáo H vừa bán ma túy cho T1 và người đi chung với T1 là tên S thì bị Công an bắt quả tang. Bị cáo H khai nhận ma túy trên là do bị cáo H mua của một người chưa xác định nhân thân lai lịch, tại khu vực ngã ba Kênh Ba thuộc xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, để bị cáo Hiền bán lại kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số 3501/C54B, ngày 17/10/2017 của Phân viện khoa học hình sự tổng Cục Cảnh Sát tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
02 gói nilon được niêm phong tinh thể trong suốt giữ đến giám định là ma túy có trọng lượng là 0,3506 gam, loại Methamphetamine, loại chất này nằm trong danh mục II, số thứ tự 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP, ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu sau giám định niêm phong hoàn trả có trọng lượng là 0,2727 gam.
Tang vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang tạm giữ các vật chứng như sau: 01 bịch nylon niêm phong hàn kín có chất ma túy Methamphetamine với trọng lượng 0,2727 gam do phân Viện khoa học hình sự Thành phố Hồ Chí Minh trả lại sau giám định, tiền Việt Nam 400.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 04/QĐ-KSĐT, ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Văn H gây ra; Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức hình phạt từ 02 đến 03 năm tù. Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Về tang vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bịch nilon chứa tinh thể trong suốt được niêm phong còn lại sau giám định có trọng lượng là: 0,2727 gam, có Methamphetamine.
Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H do không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa tiếp tục truy xét làm rõ, xử lý sau. Do đó, không đề cập xem xét.
Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12, ngày 19/6/2009 không xử lý hình sự đối với hành vi của Huỳnh Thanh T1 và Nguyễn Văn S có hành vi mua trái phép chất ma túy để sử dụng do bị cáo Nguyễn Văn H bán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trước Tòa, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận vào khoảng 14giờ 30 phút, ngày 15/10/2017, tại bờ kênh nổi thuộc địa phận ấp X, xã Y, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi đang bán trái phép 02 bịch ma túy tổng hợp (dạng đá) loại Methamphetamite có trọng lượng 0,3506 gam cho những người nghiện ma túy là Huỳnh Thanh T1 và Nguyễn Văn S với giá tiền 200.000 đồng/01bịch ma túy thì bị Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bắt quả tang cùng tang vật chứng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H không tranh luận với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, tội danh và Điều luật mà Kiểm sát viên đã truy tố bị cáo ra trước tòa.
Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H phù hợp với lời khai của Huỳnh Thanh T1 và Nguyễn Văn S là những người làm chứng, phù hợp với kết quả giám định số 3501/C54B ngày 17/10/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/10/2017 và các tang vật chứng thu giữ đã được thẩm tra xác minh công khai tại phiên Tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở chổ: Bị cáo đã bán chất ma túy làm cho người sử dụng luôn phụ thuộc vào ma túy, ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng như bệnh tim, phổi và không kiểm soát được liều dùng có thể dẫn đến tử vong và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV/AIDS, làm suy thoái giống nòi và là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo H có nhân tốt. Trong quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Do đó khi áp dụng hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần nhưng cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, xét đề nghị Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tang vật chứng:
Đối với số tiền 400.000 đồng. Xét đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 gói niêm phong số 3501/C54B, ngày 17/10/2017 của Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát phòng, chống tội phạm trả lại sau giám định sau giám định còn lại 0,2727 gam nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với người đàn ông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo H do không rõ nhân thân và lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa tiếp tục truy xét làm rõ, xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Đối với Huỳnh Thanh T1 và Nguyễn Văn S có hành vi mua trái phép chất ma tuý do bị cáo Nguyễn Văn H bán để sử dụng. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12, ngày 19/6/2009 thì không sử lý hình sự là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2017, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/01/2018) để đảm bảo công tác kháng nghị, kháng cáo và thi hành án.
Về tang vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng, theo biên lai thu số 02949, ngày 10/01/2018.
Tịch thu tiêu hủy 01 bịch nilon chứa tinh thể trong suốt được niêm phong sau giám định, có tổng trọng lượng là 0,2727 gam có Methamphetamine. (Tất cả tang vật trên hiện cơ quan thi hành án huyện Đức Hòa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2017)
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
Án sơ thẩm công khai, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND,CA huyện Đức Hòa; -Thi hánh án huyện; -Bị cáo; -Lưu hồ sơ; -Lưu án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Văn Tài |