- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị G "Tranh chấp hợp đồng vay" Lê Minh H, Tô Thị Diem Th"
- Tòa quyết gì? [1] Buộc ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th phải liên đới trả cho bà Phạm Thị G 600.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2018/DS-ST Ngày: 24-01-2018. “V/v tranh chấp HĐ vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân.
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hồ Thái Bình;
2/ Ông Hồ Văn Bún.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án.
Ngày 24/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 82/2017/TLST-DS ngày 05/10/2017 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-DS ngày 10/01/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị G, sinh năm: 1968 (Có mặt).
Trú tại: ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Bà Tô Thị Diễm Th, sinh năm: 1981.
Ông Lê Minh H, sinh năm: 1976.
Cả hai trú tại: ấp R, xã T, huyện V, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền của ông H, bà Th: Ông Lê Hùng M, sinh năm: 1974 (Có mặt).
Trú tại: ấp 1, xã Th, thị xã K, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn, bà Phạm Thị G trình bày: Nguyên vào ngày 19/6/2017 (ngày 24/5/2017 âm lịch) vợ chồng ông H, bà Th có thỏa thuận vay số tiền 600.000.000 đồng, bà trực tiếp giao tiền cho ông H và bà Th. Khi vay các bên có viết biên nhận hai bên thỏa thuận hẹn 07 ngày sau sẽ trả, số tiền này bà Th và ông H nói để cho người ta đáo nợ Ngân hàng, về tiền lãi thỏa thuận là 6%/1tháng, khi đến hạn thanh toán tiền gốc thì sẽ thanh toán luôn tiền lãi. Nhưng từ ngày vay đến nay bà Th và ông H không trả cho bà tiền gốc và cũng không trả cho bà tiền lãi, bà có gọi điện cho bà Th để đòi nợ nhiều lần nhưng bà Th không trả mà cứ diện lý do rồi hẹn hoài. Ông H cũng có gọi điện cho bà để yêu cầu bà lấy tiền gốc bỏ tiền lãi nhưng cũng không thực hiện.
Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th phải liên đới trả cho bà số tiền gốc 600.000.000 đồng và 47.250.000 đồng (Tiền lãi tính từ ngày 19/6/2017 đến ngày 19/01/2018, cụ thể: 600.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 07 tháng = 47.250.000 đồng). Tổng cộng ông H và bà Th phải trả là 647.250.000 đồng. Bà yêu cầu ông H và bà Th đến hết ngày 01/3/2018 phải trả hoàn tất số nợ trên.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th là ông Lê Hùng M trình bày: Ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị G. Ông cũng trình bày thêm, số tiền trên ông H, bà Th vay cách nay 01 năm và có đóng lãi cho bà G nhưng các giấy tờ ông H và bà Th không có giữ nên không có yêu cầu hay tranh chấp gì. Nay bà G khởi kiện thì ông H và bà Th thừa nhận ngày 19/6/2017 có vay của bà G số tiền 600.000.000 đồng, từ ngày vay đến nay chưa đóng lãi cho bà G. Ông H, bà Th cũng đồng ý trả cho bà G số tiền gốc 600.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 19/01/2018 là 47.250.000 đồng (lãi suất là 1,125%/tháng). Số tiền nợ nêu trên ông H và bà Th xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi hết số nợ.
Vụ kiện đã được Tòa án hòa giải nhưng không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 21/8/2017, bà Phạm Thị G có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng giải quyết buộc ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th trả số tiền vay làm phát sinh quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do ông H, bà Th cư trú tại huyện Vĩnh Hưng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Phạm Thị G yêu cầu bị đơn ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th phải liên đới trả 600.000.000 đồng tiền vay và 47.250.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 647.250.000 đồng. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th, ông Lê Hùng M thừa nhận bị đơn ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th còn nợ bà Phạm Thị G 600.000.000 đồng tiền vay và 47.250.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 647.250.000 đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không cần phải chứng minh, nên Hội đồng xét xử khẳng định ông H và bà Th còn nợ bà G 600.000.000 đồng tiền vay và 47.250.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 647.250.000 đồng.
Xét về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn bà G yêu cầu ông H bà Th đến hết ngày 01/3/2018 phải trả hết số nợ trên. Ngược lại bị đơn ông H, bà Th xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Xét thấy yêu cầu trả nợ của bị đơn ông H, bà Th không được nguyên đơn (bà G) đồng ý, mặc khác bà G đồng ý cho bị đơn ông H, bà Th đến hết ngày 01/3/2018 phải trả hết số nợ trên, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn có lợi cho bị đơn xét nên chấp nhận. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo luật định, cần tuyên xử buộc bị đơn ông H, bà Th phải liên đới trả cho bà G 600.000.000 đồng tiền vay và 47.250.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 647.250.000 đồng. Hạn chót để trả hoàn tất số nợ trên là ngày 01/3/2018. Nếu chậm thi hành, bị đơn ông H, bà Th phải chịu thêm tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án.
Án phí: Bà G không phải chịu án phí. Ông H, bà Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 463, 465, 466, 468 và Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Buộc ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th phải liên đới trả cho bà Phạm Thị G 600.000.000 đồng tiền vay và 47.250.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 647.250.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bảy triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng). Hạn chót để trả hoàn tất số tiền trên là ngày 01/3/2018.
Kể từ khi ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
[2] Về án phí: Hoàn trả bà Phạm Thị G 14.225.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004573 ngày 05/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng.
Ông Lê Minh H và bà Tô Thị Diễm Th phải liên đới nộp 29.890.000 (Hai mươi chín triệu, tám trăm chín mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các bên đương sự được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
| -TAND Tỉnh. -VKSND Huyện. -CCTHA DS Huyện. -Các đương sự. - Lưu. | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm. Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà. (Đã ký) Trần Trọng Nhân |