vanban.org

Bản án 03/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn Hữu N.

Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Văn Hữu N số tiền gốc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả 2.974.000đ (hai triệu chín trăm, bảy mươi chín nghìn đồng), tổng cộng gốc và lãi là 52.974.000đ (năm mươi hai triệu, chín trăm, bảy mươi chín nghìn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Văn Hữu N, bị đơn ông Nguyễn Văn T tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn Hữu N.
  • Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 03/2018/DS-ST
Ngày 30-03-2018
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thơm và ông Nguyễn Ngọc Tấn.

- Thö kyù Toøa aùn ghi bieân baûn phieân toøa: Ông Phạm Văn Thể.

- Ñaïi dieän Viện kiểm sát nhân dân huyeän C tham gia phieân toøa: ông Hoàng Xuân Dương - Kieåm saùt vieân.

Trong ngaøy 30/3/ 2018 taïi Phòngxử án Toaø aùn nhaân daân huyeän C xeùt xöû sô thaåm coâng khai vuï aùn dân sự sơ thẩm thuï lyù soá: 82/2017 /TLST-DS, ngaøy 30 thaùng 11 naêm 2017 veà vieäc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ” theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá: 03 /2018/QÑST-DS, ngaøy 22 thaùng 2 naêm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2018 ngày 12 tháng 3 năm 2018 giöõa caùc ñöông söï:

- Nguyên đơn: Ông Văn Hữu N.

Địa chỉ: Số 160, Phan Bội Châu, Tp. B, tỉnh Đắk Lăk.

- Người được nguyên đơn ủy quyền: Ông Nguyễn Minh L (Có mặt)

Địa chỉ: Số 59, Tôn Đức Thắng, Phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lăk

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn 03, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, người đại diện theo quỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24/7/2017 ông Văn Hữu N có cho ông Nguyễn Văn T vay số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) hai bên có viết giấy tờ tay với nhau, không có lãi suất, thời hạn trả nợ ngày 14/8/2017. Tiếp đến ngày 14/8/2017 ông N cho ông T vay số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) hai bên có viết giấy tờ tay với nhau, không có lãi suất, thời hạn trả nợ ngày 24/8/2017, tổng cộng hai lần vay là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Khi đến thời hạn trả nợ ông T không trả tiền cho ông cho N nên ông N đã đòi nhiều lần nhưng ông T vẫn không chịu trả, do vậy ông N khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện C yêu cầu ông T phải trả cho ông N tổng cộng số tiền hai lần vay là 50.000.000đồng và yêu cầu tính lãi suất chậm trả nợ tính từ ngày 25/8/2017.

Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ ánTòa án nhân dân huyện C đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, trong thông báo nêu rõ việc ông N kiện đòi ông T số tiền 50.000.000đ, ngoài ra trong thông báo còn thể hiện trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo này, ông T phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của ông N và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố. Trường hợp cần gia hạn, thì phải có đơn xin gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do để Toà án xem xét. Hết thời hạn này mà người được thông báo không nộp cho cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, thì Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Trong qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã 02 lần giao giấy triệu tập trực tiếp cho ông T, nhưng ông T vẫn không chấp hành, Tòa án đã 02 lần giao trực tiếp thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T, nhưng ông T đều vắng mặt, không có lý do nên vụ án không hòa giải được.

Ngày 22/02/2018 Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, phiên tòa mở vào ngày 12/3/2018 nhưng ông T vắng mặt không có lý do, phiên tòa hoãn đến ngày 30/3/2018 mở lại. Toàn bộ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đều giao trực tiếp cho ông T, nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, nên hội đồng xét cứ căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng như nội dung vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình, bị đơn Tòa án đã giao trực tiếp các văn bản tố tụng cho ông T đúng theo quy định của pháp luật, nhưng ông T không chấp hành, vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 02, nên HĐXX xét xử vắng đối với bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T phải trả cho ông N số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kếtquả tranh tụng tại phiên tòa hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: ông Văn Hữu N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T, có địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện C, Đắk Nông trả số tiền mà ông T đã vay. Vì vậy, quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu khởi kiện: Còn trong thời hiệu khởi kiện.

Về nội dung:

Xét hợp đồng vay tài sản giữa ông Văn Hữu N với ông Nguyễn Văn T là hoàn toàn có thật, điều đó được thể hiện qua giấy vay tiền giữa ông N và ông T xác lập 24/7/2017 và xác lập ngày 14/8/2017, mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ bản gốc có chữ ký của ông T. Đến hạn ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên ông N khởi kiện ông T, để ông T được quyền trình bày ý kiến của mình về việc vay mượn tiền của ông N, Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông T, đồng thời triệu tập ông T và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận,công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần.Tại phiên họp, hòa giải ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, ông T đã tước bỏ quyền của mình và phải chịu hậu qủa không chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xét hợp đồng vay tài sản giữa ông N và ông T xác lập ngày 24/7/2017, ông N cho ông T vay 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) thời hạn trả nợ ngày 14/8/2017; Hợp đồng vay tài sản xác lập vay 14/8/2017 ông T vay tiền của ông N số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) thời hạn trả nợ ngày 24/8/2017 là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định của pháp luật, theo quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, ông N khởi kiện ông T yêu cầu ông T phải trả cho ông N số tiền 50.000.000đ và tiền lãi suất chậm trả tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2017 là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu của ông N yêu cầu ông T trả cho ông N số tiền gốc cho hai khoản vay là 50.000.000đ và lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu của ông N.

Đối với yêu cầu lãi suất chậm trả của ông Văn Hữu N đối với ông Nguyễn Văn T được tính theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông Văn Hữu N yêu cầu ông Nguyễn Văn T trả số tiền lãi chậm trả từ ngày 25 tháng 8 năm 2017 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30 tháng 3 năm 2018 là 07 tháng 5 ngày, như vậy: 50.000.000đ x (0,83% x 7 tháng+0,83%/30x5 ngày) = 2.974.000 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông Văn Hữu N là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N. Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Văn Hữu N số tiền 50.000.000đ tiền gốc và tiền lãi chậm trả 2.974.000 đồng; tổng cộng gốc và lãi là: 52.974.000 đồng.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 52.974.000đ x 5% = 2.648.700đ (Làm tròn 2.648.500đ)

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tòan bộ án phí là 2.648.500 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000976 ngày 29/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn Hữu N.

1. Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông Văn Hữu N số tiền gốc 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) và tiền lãi chậm trả 2.974.000đ (hai triệu chín trăm, bảy mươi chín nghìn đồng), tổng cộng gốc và lãi là 52.974.000đ (năm mươi hai triệu, chín trăm, bảy mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Văn Hữu N có đơn yêu cầu thi án án Nguyễn Văn T không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì áp dụng khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 để tính lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền.

2. Về án phí: Buộc Nguyễn Văn T phải nộp 2.648.500đ (hai triệu, sáu trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Văn Hữu N số tiền 1.250.000đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000976 ngày 29 tháng 11 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ