- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 03/2017/QĐDS - ST Ngày: 27 – 9 – 2017 |
V/v: Yêu cầu tuyên bố
một người mất tích.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với!thành!phần!giải!quyết!việc!dân!sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Hồ Văn Thanh – Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Đỗ Đình Thuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên họp: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại phòng họp Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2017/TLST - DS ngày 29 tháng 3 năm 2017 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2017/QĐPH - ST ngày 22 tháng 9 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Thị H, sinh năm 1986. (Có mặt)
Địa chỉ nơi cư trú: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Thị N, sinh năm 1986.
HKTT: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Chị Thị H, sinh năm 1986 và chị Thị N, sinh năm 1990 là hai chị em ruột, bố là ông Điểu O (đã chết), sinh năm 1939, mẹ là bà Thị M, sinh năm 1949 tất cả có đăng ký hộ khẩu thướng trú tại ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B và cùng sinh sống tại địa chỉ trên. Tháng 2 năm 2014 mặc dù không có mâu thuẫn gì với gia đình nhưng chị N bỏ nhà đi đến nay không về, đi đâu gia đình không rõ và cũng không có tin tức gì. Gia đình đã tự tìm kiếm và nhắn tin trên báo, đài nhưng không có tin tức của chị N. Tại phiên họp hôm nay chị H thống nhất như trình bày tại đơn yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố chị Thị N mất tích. Ngoài ra chị H không có yêu cầu nào khác.
NHẬN ĐỊNH
1
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản nhận định:
Theo đơn của chị Thị Nvề việc yêu cầu tuyên bố chị Thị H mất tích là việc Dân sự theo quy định tại khoản 3, Điều 27 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 và nơi cư trú cuối cùng của chị Thị H ở xã Tân Quan, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước nên căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 35 và điểm b, khoản 2, Điều 39 Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản thụ lý giải quyết vụ việc là đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy chị Thị N sinh sống cùng với gia đình từ lúc nhỏ tại tổ 5, ấp S, xã T, huyện H đến tháng 12/2014 bỏ đi đến nay không có tin tức. Sau khi chị H bỏ đi gia đình cũng đã nhắn tin trên đài phát thanh và truyền hình Bình Phước nhưng không thấy chị N về nhà. Sau khi thụ lý đơn, sao lục thủ tục đăng báo, đài, Tòa án đã đăng báo Công lý trong 03 kỳ liên tiếp trên các số báo 37 ngày 10/5/2017, số 38 ngày 12/5/2017, số 39 ngày 17/5/2017 và phát thông báo, nhắn tin trên đài Tiếng nói Việt Nam theo hợp đồng số 76NT/2017/HĐTT - CNHCM ngày 04/5/2017. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông tin trên báo, đài nhưng vẫn không có tin tức từ chị Thị N liên lạc với Tòa án. Ngoài ra khi nộp đơn yêu cầu chị Thị H có nộp kèm theo 01 nội dung đơn xin xác nhận (bút lục 08) và Tòa án xác minh tại Công an T thể hiện: Tại tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B là nơi cư trú cuối cùng của chị Thị N. Chị Thị N đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 12 năm 2014 cho đến nay, khi đi không báo với địa phương và hiện tại cũng không rõ ở đâu.
Như vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự có cơ sở xác định mặc dù đã áp dụng các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về Tố tụng Dân sự và đã quá thời hạn 2 năm kể từ thời điểm 2014 đến nay vẫn không có tin tức xác thực của chị Thị N nên căn cứ đơn yêu cầu của chị Thị H đề nghị Tòa án tuyên bố chị Thị N mất tích là có cơ sở để chấp nhận. Các vấn đề khác về quản lý tài sản của người mất tích chị H trình bày không có tài sản chung hoặc quản lý tài sản riêng của chị N và không đề nghị giải quyết nên không xem xét.
Lệ phí giải quyết việc Dân sự chị H phải chịu theo quy định tại khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Lệ phí, chi phí đăng phát thông tin: Người yêu cầu phải chịu theo quy định tại Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ việc đến trước khi mở phiên họp. Tại phiên họp hôm nay, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Quan điểm về nội dung đơn yêu cầu, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên họp đề nghị Thẩm phán chủ trì phiên họp chấp nhận đơn của chị Thị H tuyên bố chị Thị N mất tích. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.
2
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự 2015,
Căn cứ vào khoản 3, Điều 27, điểm a, khoản 2, Điều 35, điểm b, khoản 2, Điều 39, các Điều 361, 367, 369, 370, 372, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Thị H.
2. Tuyên bố mất tích đối với chị Thị N – sinh năm 1986
HKTT: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 5, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh B.
Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Lệ phí: Chị Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà Hương đã nộp tại biên lai thu số 0012032 ngày 29/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, Bình Phước.
4. Lệ phí, chi phí đăng phát thông tin: Chị Thị H phải chịu 4.000.000 đồng được khấu trừ vào số tiền chị Hương đã nộp 4.000.000 đồng theo biên lai thu ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận Quyết định hoặc được tống đạt hợp lệ để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND Hớn Quản; - UBND xã Tân Quan, huyện Hớn Quản. - Người yêu cầu; - Lưu; 3 | THẨM PHÁN Hồ Văn Thanh |