vanban.org

Bản án 03/2017/HC-ST — Hành chính

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 07/08/2017 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào các Điều 30, 31, 116, 194 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ vào vào Điều 5 Luâ ̣t đất đai năm 1987; Điều 6, 30 Luật đất đai năm 1993; Điều 15, 50, 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 12, 100, 188 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngà y 15/5/2014 của Chính phủ; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Đình Bảy khiếu kiện Quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào các Điều 30, 31, 116, 194 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2017/HC-ST
Ngày: 07- 8 - 2017
V/v khiếu kiện Quyết đi ̣nh
Hành chính lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi và bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thi ̣ Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 02/2017/TLST- HC ngày 06 tháng 3 năm 2017 về khiếu kiê ̣n quyết đi ̣nh hành chinh theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án

́ ra xét xử số 03/2017/QĐXX-HC ngày 18 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Ngƣời khởi kiện: Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội, có mặt.

Ngƣời bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khở i kiê ̣n: Luâ ̣t sư Nguyễn Văn L – Văn phòng Luâ ̣t sư Đ, Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Hà Nô ̣i, có mặt.

2. Ngƣời bị kiện: Uỷ ban nhân dân thị trấn X (huyện C) – Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H, Chủ tịch UBND thị trấn X – Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy D, Phó Chủ tịch UBND thị trấn X, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện và các lời khai – Người khởi kiện ông Nguyễn Đình B có ý kiến trình bày: Ông Nguyễn Đình B làm đơn khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Tòa án nhân dân huyện C giải quyết các yêu cầu : 1. Hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X do không hợp pháp 2. Yêu cầu cắ m mốc giớ i thử a đ ất (thửa số 71 tờ bản đồ số 68) tại khu T, thị trấn X, huyê ̣n Chương Mỹ và cấp giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đấ t ở đối vớ i thử a đất cho ông Nguyễn Đinh B.

̀

Ông B đưa ra các chứ ng cứ , lập luận để chứng minh cho yêu cầu khở i kiê ̣n và quyền sử dụng đất hợp pháp như sau: Thử a đất mà ông đang sử dụng (Thửa số 71, tờ bản đồ số 68) tại khu T, thị trấn X có nguồn gốc của ông Ngô Văn T mua thanh lý (mua thanh lý khu nhà tầng trên diê ̣n tich đất 3.320m2) của UBND thị

́ trấn X từ năm 1991.

Sau đó , bà Hoàng Thị P (vợ ông T) chuyển nhượng 150m2 cho ông B theo giấy chuyển nhượng nhà ở và tài sản ký kết ngày 01/11/2000 được ông Nguyễ n Đắc T là Chủ tịch UBND thị trấn X đóng dấu xác nhâ ̣n “Nhà đất ở ổn định không có tranh chấp” là phù hợp với Khoản 1, Điều 82, Nghị định 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Về việc ký kết hợp đồng thuê đất số 63/HĐ-UBND ngày 17/7/2012 thì ông B khẳng đi ̣nh diê ̣n tich đất công thuê trong hợp đồng thuê này không phải là thử a

́ đất số 71 tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X vì thửa đất 71 mà ông đang sử du ̣ng là đất ở. Ông B không thực hiê ̣n nghia vu ̣̃

gì theo hợp đồng thuê đất số 63 nên hợp đồng này không có giá tri ̣ pháp lý để thi hành.

Theo ông B thì ông đa thự̃

c hiê ̣n đầy đủ nghia vu ̣̃

kê khai , đóng thuế đối vớ i diê ̣n tich 150m2 đất ta ̣i thử a đất 71 này từ năm 2006 cho đến năm 2011, quá trình

́ sử du ̣ng đất ổn đi ̣nh , liên tu ̣c, không có tranh chấp nên có đầy đủ điều kiê ̣n được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất theo quy đi ̣nh ta ̣i Nghi ̣ đi ̣nh số

43 của Chính phủ và Luâ ̣t đất đai năm 2013. Vì vậy, thử a số 71 tờ bản đồ số 68, diê ̣n tich

́ 150m2 không phải đất công như kết luâ ̣n ta ̣i Thông báo số

56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X . Ngoài ra, xét về thẩm quyền thì việc ban hành Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X là không đúng thẩm quyền theo Điều 202 Luâ ̣t đất đai năm 2013 (Không tiến hà nh hò a giải tranh chấp đất đai vớ i sự tham gia của đại diê ̣n Mặt trận tổ quốc) nên cần phải hủy bỏ.

Tại phiên họp tiếp câ ̣n, công khai chứ ng cứ , ngườ i khở i kiê ̣n thay đổi yêu cầu khở i kiê ̣n từ yêu cầu được cắm mốc và cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất ở sang yêu cầu được thực hiê ̣n chính sách thu hồi đất và đ ền bù , tái định cư đúng theo quy đi ̣nh của Luâ ̣t đất đai năm 2013, đồng thờ i giữ nguyên yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X.

2. Đại diện cho người bị kiện là Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn X có ý kiến trình bày: Thửa đất mà ông B có yêu cầu được cấp giấy chứng nhận theo đơn đề nghị ngày 25/4/2016 (Thử a số 71, bản đồ số 68) thuộc vị trí khu đất 3.320m2 có nguồn gốc là đất công để thực hiê ̣n dự án đô thi ̣ X của tinh Hả

̀ Sơn Binh cũ , trên

̀ đất có khu nhà 02 tầng xây dựng dở dang do dừ ng triển khai dự án . Năm 1991, UBND thị trấn X bán thanh lý tài sản trên đất là khu nhà 02 tầng cho ông Ngô Văn T. Năm 1992, ông T tháo dỡ nhà 02 tầng đa mua thanh lỹ

́ để lấy vật liệu nên phần diê ̣n tich đất 3.320m2 vẫn là đất công . Tại Bản đồ địa chính số 68 đo đạc năm

́ 2005 được Sở Tài Nguyên & Môi trường nghiệm thu năm 2008 thì Thửa đất số 71, diện tích 157,6 m2 là đất công do UBND thị trấn X quản lý.

Năm 2011, vợ chồng ông B đa cõ ́ đơn đề nghị được cấp giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất và làm nhà ở . UBND thị trấn X trả lời bằng Thông báo số 256/TB-UBND ngày 24/9/2011 nêu rõ nguồn gốc đất đai là đất công, được quy hoạch xây dựng Trường mầm non thị trấn X theo Nghị quyết số 27/NQ-HĐ ngày 24/7/2007 của Hội đồng nhân dân (HĐND) thị trấn X; Viê ̣c vợ chồng ông B có đơn đề nghị được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất là không có cơ sở pháp lý. Sau đó, ông B tự nguyê ̣n ký kết vào hợp đồng thuê đất số 63/HĐ-UBND ngày 17/7/2012 thuê diện tích đất công này để sử dụng vào mục đích trồng cây lâu năm, cây ngắn ngày với thời hạn thuê là 05 năm (từ 01/7/2012 đến 01/7/2017).

Về quy hoa ̣ch sử du ̣ng đất : Theo Nghị quyết số 27/NQ-HĐ ngày 24/7/2007 của HĐND thị trấn X thì Thửa đất số 71, tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X thuộc khu đất 3.320m2 được quy hoạch để xây dựng Trường mầm non thị trấn X nhưng sau đó không t riển khai thực hiê ̣n được dự án này. Theo bản đồ giải phóng mă ̣t bằng phu ̣c vu ̣ công tác bồi thườ ng hỗ trợ tái đi ̣nh cư lâ ̣p tháng 2 năm 2017 thì thử a đất số 71 tờ bản đồ 68 thuô ̣c khu đất thự c hiê ̣n dự án xây dựng Trườ ng tiểu học X A. Ngày 14/02/2017, UBND huyê ̣n Chương My cõ ́ thông báo thu hồi đất số 382/TB-UBND về viê ̣c thu hồi 9.929,9m2 đất để thực hiê ̣n dự án đầu tư xây dựng công trinh Trườ ng tiểu ho ̣c X A. Hiê ̣n ta ̣i thi dự án Trườ ng tiểu ho ̣c X A đang triển

̀

̀

khai thực hiê ̣n trên phần diê ̣n tich đất công 8.434,5m2; Phần diê ̣n tich còn lại

́

́ 1.495,4m2 (trong đó có thử a 71 tờ bản đồ số 68) đang được UBND huyện C làm thủ tục thu hồi, đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định.

Đại diện UBND thị trấn X khẳng định việc ban hành Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 là đúng quy định của pháp luật; yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X và yêu cầu được cắm mốc giớ i, cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đấ t ở của người khởi kiện là không có căn cứ .

3. Ý kiến các đương sự tại phiên tòa:

3.1. Ý kiến của n gười khở i kiê ̣n: Ông B khẳng đi ̣nh có quyền sử du ̣ng hợp pháp đối với thửa đất số 71 tờ bản đồ 68, khu T; căn cứ xác đi ̣nh quyền sử du ̣ng đất hợp pháp là giấy chuyển nhượng nhà ở và tài sản ký kết ngày 01/11/2000 được ông Nguyễn Đắc T là Chủ tịch UBND thị trấn X đóng dấu xác nhâ ̣n “Nhà đất ở ổn định không có tranh chấp” là phù hợp với Điều 82, Nghị định 43 ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Thực tế thi ông B đa trực tiếp sữ

̉ du ̣ng đất trên thực tế từ năm 2000 đến nay

̀ và đóng thuế đất ở theo thông báo thu thuế của UBND thị trấn X từ năm 2006 đến năm 2010; Ông B thừ a nhâ ̣n do UBND thị trấn X cam kết se cho lã

̀m nhà ở và hợp thứ c quyền sử du ̣ng đất ở nên ôn g mớ i ký vào hợp đồng thuê đất năm 2012 nên ông không công nhâ ̣n tinh pháp lý của hợp đồng thuê đất này.

́

Tại phiên tòa , ngườ i khở i kiê ̣n giữ nguyên yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X và yêu cầu được thu hồi đất và đền bù, tái định cư theo đúng quy đi ̣nh của Luâ ̣t đất đai năm 2013.

3.2. Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho n gười khở i kiê ̣n: Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền lợi cho ngườ i khở i kiê ̣n đề ng hị áp dụng Điều 17 Luâ ̣t đất đai năm 1987 quy đi ̣nh “ Ngườ i được thừ a kế hoặc ngườ i chưa có chỗ ở , khi được ngườ i khá c chuyển nhượng nhà để ở , sau khi được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước công nhận quyền sở hữu đối với nhà ở, thì được quyền sử dụng đất ở có ngôi nhà đó” để xác đi ̣nh viê ̣c mua thanh lý nhà năm 1991 của ông Ngô Văn T là hợp pháp và ông T có quyền sử dụng đối vớ i diện tích đất gắn với nhà mua thanh lý . Sau đó , do không có nhu cầu sử du ̣ng nên bà P (vợ ông T) chuyển nhượng cho ông B 150m2 đất theo giấy chuyển nhượng nhà ở và tài sản ký kết ngày 01/11/2000 được ông Nguyễn Đắc T là Chủ tịch UBND thị trấn X đóng dấu xác nhận “Nhà đất ở ổn định không có tranh chấp” là hợp pháp theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 82, Nghị định số 43 của Chính phủ.

Như vâ ̣y, nô ̣i dung kết luâ ̣n là đất công trong Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X là không đúng pháp luật và việc UBND thị trấn X không tiến hành hòa giải là vi phạm về thẩm quyền theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 202 Luâ ̣t đất đai năm 2013 nên cần hủy bỏ.

3.3. Ý kiến của n gười bi ̣ kiê ̣n: Đa ̣i diê ̣n UBND thị trấn X khẳng đi ̣nh thử a đất số 71, tờ bản đồ 68, khu T là đất công thực hiện dự án Trường tiểu học X A; Không chấp nhâ ̣n yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X. Đối với yêu cầu về thu hồi đất và đền bù , tái định cư theo Thông báo thu hồi đất số 382/TB-UBND ngày 14/2/2017 của UBND huyện Chương Mỹ và việc áp dụng chính sách để lên Phương án đền bù , giải phóng mặt bằng theo Thông báo thu hồi đất số 382 thuô ̣c thẩm quyền của UBND huyê ̣n Chương My.̃

4. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

4.1. Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định của Luâ ̣t tố tu ̣ng hành chinh.

́

4.2. Về việc giải quyết vụ án:

- Không chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Nguyễn Đình B về yêu cầu hủy bỏ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X

- Đối với yêu cầu về áp dụng chính sách , lên phương án đền bù, giải phóng mă ̣t bằng theo Thông báo thu hồ i đất số 382 của UBND huyện Chương Mỹ không thuô ̣c thẩm quyền xem xét giải quyết của Tòa án trong vu ̣ án hành chinh này.

́

- Ông B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng.

Khiếu kiện của ông Nguyễn Đình B đối với Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X trả lời đơn đề nghị về viê ̣c không chấp nhâ ̣n yêu cầu được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣n g đấ t ở của ông Nguyễn Đình B có thể hiện nội dung của một quyết định hành chính thuộc hoạt động quản lý nhà nướ c về đất đai là đối tượng bị kiện của vụ án hành chính. Yêu cầu khiếu kiện đảm bảo về thời hiệu khởi kiện theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 116 Luật tố tụng Hành chính. Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ Thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30, 31 Luật tố tụng hành chính.

2. Về nô ̣i Dung khiếu kiện.

2.1. Về thẩm quyền ban hành Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016.

Ngày 25/5/2016, ông Nguyễn Đình B có đơn đề nghị gửi UBNDthị trấn X đề nghị được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đấ t đối với thửa đất số 71 tờ bản đồ 68, diện tích 157,6m2 tại tổ 5 khu Tân Bình. Trên cơ sở kiểm tra , xác minh hồ sơ quản lý đất đai , UBND thị trấn X ban hành Thông báo trả lời đơn số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền trong hoa ̣t đô ̣ng quản lý nhà nước về đất đai.

Ý kiến của ngườ i khở i kiê ̣n và Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền lợi hợp pháp cho ngườ i khở i kiê ̣n cho rằng UBND thị trấn X ban hành Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 mà không hòa giải là vi phạm Điều 202 Luâ ̣t đất đai năm 2013 là không đúng, bở i quy định về hòa giải theo Điều 202 Luâ ̣t đất đai năm 2013 được áp du ̣ng trong trườ ng hợp có tranh chấp đất đai.

2.2. Về nội Dung Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016.

Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 xác định nguồn gốc đất đai theo nô ̣i Dung đơn đề nghị của ông B là đất công và yêu cầu được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ở là không có căn cứ . Không đồng ý vớ i nô ̣i Dung Thông báo số 56, ông B khẳng định có quyền sử du ̣ng hợp pháp đối vớ i thửa đất số 71 tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X.

Xét tính pháp lý của việc thanh lý nhà năm 1991 của UBND thị trấn X thấy: Ông B cho rằng thử a đất số 71, tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X (thuộc khu đất 3.320m2) có nguồn gốc của ông Ngô Văn T mua thanh lý của UBND thị trấn X. Do hồ sơ thanh lý UBND thị trấn X không còn lưu giữ nên chứ ng cứ để xem xét chi cỏ ̀n phiếu thu tiền số 81 ngày 15/12/1991 thể hiện nô ̣i Dung là bán nhà thanh lý vớ i số tiền 3.900.000đồng. Vớ i giá tri ̣ này ta ̣i thờ i điểm năm 1991 thì ý kiến của đại diện UBND thị trấn X cho rằng UBND thi ̣ trấn chi thanh lỷ

́ cho ông T tài sản trên đất là khu nhà 02 tầng được xây dựng dở dang (khoảng hơn 100m2/ 01 tầng) để lấy vật liệu là phù hợp . Căn cứ về thẩm quyền và thủ tu ̣c thanh lý hóa giá nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước quy đi ̣nh ta ̣i Điều

8 Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính Phủ như sau “Bên bán là Giám đốc công ty kinh doanh nhà thuộc ngành nhà đất cấp tỉnh, Chủ tịch UBND thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện (nơi chưa có Công ty kinh doanh nhà) hiện đang quản lý nhà ở…” thi việc

̀ UBND thị trấn X thanh lý nhà thuộc dự án của tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) là không đúng thẩm quyền và trái pháp luật . Theo đó tài liê ̣u “ Phiếu thu tiền số 81 ngày 15/12/1991 của UBND thị trấn X ghi nội Dung bán nhà thanh lý” không được coi là “Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật” theo điểm đ khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và điểm đ khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013. Đây là cơ sở pháp lý kết luận ông Ngô Văn T không có quyền sử dụng hợp pháp đối với khu đất 3.320m2 tại khu T, thị trấn X thông qua viê ̣c mua thanh lý nhà của UBND thị trấn X năm 1991.

Luâ ̣n cứ của Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền lợi cho ngườ i khở i kiê ̣n đề nghi ̣ áp du ̣ng Điều 17 Luâ ̣t đất đai năm 1987 làm căn cứ cho tính hợp pháp của ông Ngô Văn T trong viê ̣c mua thanh lý nhà gắn liền quyền sử du ̣ng 3.320m2 đất là không chinh

́ xác. Bở i le Luâ ̣̃

t đất đai năm 1987 có quy định tại Điều 5 “Nghiêm cấm viê ̣c mua, bán, lấn, chiếm đất đai , phát canh thu tô dưới mọi hình thức…” và quy định tại Điều 17 Luâ ̣t đất đai năm 1987 áp dụng trong trường hợp nhận chuyển nhượng nhà ở nhưng phải “được cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền công nhận quy ền sở hữu đối vớ i nhà ở, thì được quyền sử dụng đất ở có ngôi nhà đó”.

Xét tính chất pháp lý của giao di ̣ch chuyển nhượng thấy: Tại Điều 6 Luâ ̣t đất đai năm 1993 quy đi ̣nh “ Nghiêm cấm viê ̣c chuyển quyền sử dụng đất trá i phép”, Điều 15 Luâ ̣t đai năm 2003 và Điều 12 Luâ ̣t đất đai năm 2013 đều quy định nghiêm cấm hành vi “ Không thực hiê ̣n đú ng quy đi ̣nh của phá p luật khi sử dụng các quyền củ a ngườ i sử dụng đất ”. Điều 30 Luâ ̣t đất đai năm 1993 quy đi ̣nh “Không được chuyển quyền sử dụng đất trong trườ ng hợp… 1. Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp ”; Điều 106 Luâ ̣t đất đai năm 2003 quy đi ̣nh “Ngườ i sử dụng đất được thực hiê ̣n cá c quyền chuyển đổi , chuyển nhượng…khi có cá c điều kiê ̣n sau đây: a. Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ”; Điều 188 Luâ ̣t đất đai năm 2013 quy đi ̣nh “Ngườ i sử dụng đất được thực hiê ̣n cá c quyền chuyển đổi , chuyển nhượng…khi có cá c điều kiê ̣n sau đây: a. Có giấy chứng nhận, trừ trườ ng hợp quy đi ̣nh tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này”. Như vâ ̣y, trên cơ sở xác đi ̣nh ông Ngô Văn T không có quyền sử du ̣ng hợp pháp đối vớ i diê ̣n tich 3.320m2 đất tại khu T, thị trấn X đến kết luận

́ pháp lý là bà Hoàng T hị P (vợ ông T) không có quyền tự phân thử a để chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đinh B 150m2 đất ở theo giấy chuyển nhượng nhà ở và

̀ tài sản ký kết ngày 01/11/2000. Viê ̣c ông Nguyễn Đắc T vớ i tư cách là Chủ tịch UBND thị trấn X đóng dấu xác nhâ ̣n “Nhà và đất ở ổn định, không có tranh chấp” vào Hợp đồng chuyển nhượng nhà , đất ở ngày 01/11/2000 là không đúng vớ i nguồn gốc đất đai và trái quy đi ̣nh pháp luâ ̣t. Do hợp đồng chuyển nhượng này trái pháp luật về nội dung (Ngườ i chuyển nhượng không có quyền chuyển nhượng ) nên không được coi là căn cứ công nhận quyền sử dụng hợp pháp theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 và điểm d khoản 1 Điều 100 Luật đất đai năm 2013.

Luâ ̣t sư bên khở i kiê ̣n đề nghi ̣ căn cứ Điều 82, Nghị định số 43 của Chính phủ để chứng minh cho tính hợp pháp của các giao dịch chuyển nhượng là không chính xác. Bở i, quy đi ̣nh ta ̣i Điều 82 Nghị định 43 của chính Phủ được áp dụng cho các giao dịch chuyển nhượng hợp pháp về nội Dung nhưng chưa phù hợp về hinh

̀ thứ c “Đất đã chuyển quyền sử dụng nhưng chưa thực hiê ̣n thủ tục chuyển quyền theo quy đi ̣nh”.

Theo đó , viê ̣c ngườ i khở i kiê ̣n là ông B đề nghị c ăn cứ nguồn gốc đất đai mua thanh lý năm 1991 và giao di ̣ch chuyể n nhượng năm 2000 để xác định có quyền sử du ̣ng hợp pháp đối với các t hửa đất số 71, tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X là không đúng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

Tại thời điểm năm 2011, vợ chồng ông B đa cõ ́ đơn đề nghị được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất và làm nhà ở trên thửa đất tại khu T, thị trấn X. UBND thị trấn X đa ban hã

̀nh Thông báo số 256/TB-UBND ngày 24/9/2011 khẳng đi ̣nh là đất công được quy hoa ̣ch xây dựng Trườ ng mầm non thị trấn X nên không có cơ sở pháp lý chấp nhâ ̣n.

Sau khi UBND thị trấn X ban hành Thông báo số 256 kết luâ ̣n là đất công , thì ông B đa tự̃ nguyê ̣n ký kết vào hợp đồng thuê đất số 63 ngày 17/7/2012 thỏa T thuê la ̣i diện tích đất công vớ i mục đích trồng cây lâu năm, cây ngắn ngày. Ngoài ra, từ việc ông B đưa ra yêu cầu được cắm mốc giớ i đất (Trong đơn khởi kiện) và nêu lý do ký hợp đồng thuê đất để được hợp thức hóa quyền sử dụng đất cho thấy thửa đất mà ông đang sử dụng vẫn chưa được cắm mốc và hợp thứ c quyền sử dụng đất hợp pháp.

Trườ ng hợp giả thiết UBND thị trấn X có giao đất trái thẩm quyền cùng vớ i viê ̣c thanh lý tài sản cho ông T từ năm 1991, sau đó có viê ̣c chuyển nhượng lại cho người khác thì nguồn gốc đất đai vẫn phải xác định là đất giao trái thẩm quyền. Tại khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy đi ̣nh: “Trườ ng hợp đất được giao không đú ng thẩm quyền đã được sử dụng ổn đi ̣nh trướ c ngà y 15/10/1993, không có tranh chấp , phù hợp với quy hoạch thì ngườ i đang sử dụng được cấp giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất… ”. Xét về quy hoạch sử dụng đất thì thấy : Thửa đất số 71, tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X thuộc khu đất 3.320m2 được quy hoạch để xây dựng Trường mầm non thị trấn X theo Nghị quyết số 27/NQ-HĐ ngày 24/7/2007 của Hội đồng nhân dân thị trấn X. Theo văn bản số 1749/UBND-XDCB ngày 18/11/2016 của UBND huyện C về việc chấp T Phương án quy hoạch trường tiểu học X A và bản đồ giải phóng mặt bằng phu ̣c vu ̣ công tác bồi thườ ng hỗ trợ tái đi ̣nh cư lâ ̣p tháng 2 năm 2017 thì thửa đất số 71 tờ bản đồ 68 thuô ̣c khu đất thực hiê ̣n dự án xây dựng Trườ ng tiểu ho ̣ c X A. UBND huyê ̣n Chương My cõ ́ thông báo thu hồi đất số

382/TB-UBND ngày 14/02/2017 về viê ̣c thu hồi 9.929,9m2 đất để thực hiê ̣n dự án đầu tư xây dựng công trình Trường tiểu ho ̣c X A. Hiê ̣n ta ̣i thi dự án Trườ ng tiểu ho ̣c X A đang triển khai

̀

thực hiê ̣n trên phần diê ̣n tich đất công là 8.434,5m2; Phần diê ̣n tich 1.495,4m2

́

́ (trong đó có thử a 71 tờ bản đồ số 68) đang được UBND huyê ̣n Chươn g My tiếñ hành thủ tục thu hồi, đền bù và giải phóng mặt bằng theo quy định.

Tại Bản đồ địa chính số 68 đo đạc năm 2005 được Sở Tài Nguyên & Môi trường nghiệm thu năm 2008 của thị trấn X, huyê ̣n Chương My thì Thửa đất số 71,̃ diện tích 157,6 m2 vị trí tại khu T, thị trấn X được thể hiê ̣n là đất công (BCS) do UBND thị trấn X quản lý.

Như vâ ̣y, UBND thị trấn X trên cơ sở xác định đúng về nguồn gốc đất đai, hồ sơ đi ̣a chinh và quy hoạch sử dụng đất để ban hành Thông báo số 56/TB-

́ UBND ngày 24/6/2016 trả lời là đất công và không chấp nhâ ̣n yêu cầu được cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất ở của ông Nguyễn Đình B là đúng pháp luật. Không có cơ sở để chấ p nhâ ̣n yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình B đề nghị huỷ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X.

Đối với yêu cầu của người khởi kiện đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiê ̣n chinh sách thu hồi đất và đền bù, tái định cư thực hiê ̣n dự án xây dựng trườ ng

́ tiều ho ̣c X A hiê ̣n đang được các cơ quan có thẩm quyền của UBND huyê ̣n Chương My triển khai thự̃

c hiê ̣n nhưng chưa thu hồi đất và lâ ̣p phương án bòi thườ ng, hỗ trợ khi thu hồi đất tại vị trí thửa đất số 71, tờ bản đồ số 68 tại khu T, thị trấn X. Khi UBND huyê ̣n Chương My tiến hành thu hỗ

̀i đất và lâ ̣p P án bồi thường hỗ trợ thu hồi đất nếu ông B cho rằng quyền và lợi ich h ợp pháp của mình bị ảnh

́ hưở ng thi có quyền khở i kiê ̣n đối vớ i các quyết đi ̣nh hành chinh

, hành vi hành

̀

́ chính của UBND huyê ̣n Chương My đến Tõ

̀a án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền quy đi ̣nh ta ̣i Khoản 4 Điều 32 Luâ ̣t tố tu ̣ng hành chinh.

́

Tại phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử kiến nghi ̣ UBND huyê ̣n Chương My khi thự̃

c hiê ̣n thu hồi đất , đền bù, hỗ trợ giải phóng mă ̣t bằng cần xem xét đến thực tế và quá trình sử dụng đất để áp dụ ng chinh sách đền bù , hỗ trợ phù hợp , đảm bảo

́

quyền lợi hợp pháp cho ngườ i đang sử du ̣ng đất là ông Nguyễn Đinh B.

̀

Về án phí: Ông B phải nộp tiền án phi hành chính sơ thẩm.

́

Đề nghi ̣ của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát về nô ̣i dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 30, 31, 116, 194 Luật tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ vào vào Điều 5 Luâ ̣t đất đai năm 1987; Điều 6, 30 Luật đất đai năm 1993; Điều 15, 50, 106 Luật đất đai năm 2003; Điều 12, 100, 188 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngà y 15/5/2014 của Chính phủ;

Căn cứ Khoả n 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình B đề nghị huỷ Thông báo số 56/TB-UBND ngày 24/6/2016 của UBND thị trấn X , huyê ̣n Chương Mỹ , Thành phố Hà Nội.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Đình B phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm; được trừ vào 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C theo biên lai thu tạm ứng án phí số 2671 ngày 06/3/2017.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ